Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

KẾT QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021

KẾT QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021

Tổng sản phẩm trên địa bàn 6 tháng đầu năm (theo giá so sánh 2010) ước đạt 6.286 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 1.664,4 tỷ đồng, tăng 1,57% so với cùng kỳ; khu vực công nghiệp – xây dựng ước đạt 1.403,4 tỷ đồng, tăng 5,5%; Khu vực dịch vụ ước đạt 2.882 tỷ đồng, tăng 4,54%; thuế và trợ cấp sản phẩm ước đạt 336,4 tỷ đồng, tăng 2,1%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá thực tế ước đạt 11.698 tỷ đồng, tăng 5,62% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện ước đạt 5.001 tỷ đồng, tăng 8,25% so với cùng kỳ năm trước, đạt 41,7% kế hoạch; trong đó, vốn ngân sách nhà nước 1.732,7 tỷ đồng, tăng 37,95%; vốn đầu tư ngoài ngân sách 3.268,3 tỷ đồng giảm 2,83%.

1. Lĩnh vực nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn

a) Triển khai Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững; Đề án phát triển bền vững cây Cam Sành; chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh: UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án; thành lập Tổ giúp việc cơ quan thường trực Ban chỉ đạo; tổ chức Lễ ra quân thực hiện trong tháng 01/2021; ban hành hướng dẫn thực hiện và tăng cường tuyên truyền Nghị quyết số 58/2020/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách đặc thù phát triển kinh tế vườn hộ và phát triển bền vững cây cam sành trên địa bàn tỉnh. Tập trung rà soát, thẩm định đối tượng theo tiêu chí của Đề án để giải ngân kịp thời.

Tổng số hộ đã thực hiện cải tạo vườn tạp là 571 hộ (vượt 215 hộ so với kế hoạch), diện tích vườn tạp đã thực hiện cải tạo là 543.962 m2. Số hộ đã được giải ngân là 231 hộ với số tiền 6.675 triệu đồng, đạt 64,7% kế hoạch. Kết quả huy động nguồn lực xã hội hóa hỗ trợ thực hiện Đề án đến nay là 975 triệu đồng. Triển khai 02 dự án khuyến nông địa phương (mô hình trồng na và mô hình trồng lạc) kết hợp với thực hiện cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ.

Đối với Đề án phát triển cây Cam sành, đã triển khai dự án cải tạo thay thế vườn cam già cỗi, kém hiệu quả để phục vụ công tác rải vụ với qui mô 260 ha/195 hộ tham gia; có 64 tổ chức, cá nhân đăng ký vay vốn để nâng cao chất lượng Cam sành, trong đó có 60 tổ chức, cá nhân đủ điều kiện vay, số vốn đã giải ngân là 840 triệu đồng.

Triển khai 03 dự án hỗ trợ theo Nghị quyết số 09/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí hỗ trợ trong 03 năm là 19.644,3 triệu đồng (riêng năm 2021 là 17.344,18 triệu đồng). Các huyện, thành phố đã triển khai 26 dự án liên kết với tổng kinh phí 21.402 triệu đồng.

b) Về trồng trọt: đã kịp thời tháo gỡ khó khăn cho cơ sở trong quá trình thu hái và tiêu thụ sản phẩm cam sành niên vụ 2020-2021; hướng dẫn các địa phương về khung thời vụ trong sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu. Một số huyện triển khai mở rộng thâm canh toàn bộ diện tích lúa bằng các giống có chất lượng và năng suất tốt. Năng suất các cây trồng chính cơ bản tăng so với cùng vụ năm 2020. Tổng sản lượng lương thực có hạt trong vụ ước đạt 124.178 tấn, tăng 1.091 tấn so với cùng vụ năm 2020. Triển khai sản xuất vụ Mùa đảm bảo khung thời vụ từ khâu làm đất đến xuống giống. Các địa phương đã chủ động chuyển đổi 31,89 ha đất trồng lúa không chủ động được nước tưới sang trồng các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn như: ngô, lạc, rau, đậu; Tiếp tục triển khai sản xuất theo phương pháp “5 cùng” trên cây trồng chính (lúa, ngô, lạc) với diện tích thực hiện là 1.468,8 ha/176 cánh đồng.

c) Về chăn nuôi: Tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng qui mô trang trại để thành hàng hóa, trong 6 tháng đầu năm đã phát triển được 14 trang trại (luỹ kế đến nay toàn tỉnh đã có 153 trang trại). Triển khai tái đàn lợn được 41.102 con; thực hiện thụ tinh nhân tạo cho đàn trâu, bò được 2.033 con (tỷ lệ thành công đạt 64,5%). Tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tăng so với cùng kỳ năm 2020, trong đó tổng đàn gia súc (trâu, bò, lợn) tăng 2,45%, đàn gia cầm tăng 4,22%. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá so với cùng kỳ, tương đương 909,62 tấn.

Công tác phòng chống rét và dự trữ thức ăn cho gia súc được triển khai quyết liệt và đạt hiệu quả tốt. Trong 6 tháng, dịch bệnh xuất hiện rải rác ở diện hẹp như: Dịch cúm gia cầm H5N6 xảy ra tại 02 thôn thuộc xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, dịch bệnh đã được khống chế hoàn toàn (tổng số gia cầm mắc bệnh, chết tiêu hủy 4.094 con); Dịch bệnh viêm da nổi cục trâu, bò xảy ra tại 08 huyện: Yên Minh, Bắc Quang, Bắc Mê, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Đồng Văn, Vị Xuyên, Quản Bạ với 624 con mắc (chết và tiêu hủy 25 con, trọng lượng gần 6 tấn); Dịch Tả lợn Châu Phi xảy ra tại Thành phố Hà Giang và huyện Vị Xuyên, tổng số lợn mắc và tiêu hủy bắt buộc là 605 con (trọng lượng trên 28,6 tấn). Các ngành, các cấp đã triển khai quyết liệt các giải pháp phòng chống, bao vây, dập dịch, xử lý các ổ dịch, không để dịch bệnh lây lan ra diện rộng. Kịp thời cung ứng vắc xin tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm; đã tổ chức tiêm phòng được 379.233 liều vắc xin cho đàn gia súc và 75.418 liều vắc xin cho đàn gia cầm.

d) Về chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) và triển khai các mô hình sản xuất điển hình: UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 116/KH-UBND ngày 13/4/2021 triển khai thực hiện Chương trình OCOP năm 2021. Đến nay, có 06 huyện/thành phố đăng ký đánh giá và phân hạng đối với 47 sản phẩm của các doanh nghiệp, HTX, hộ gia đình tham gia. Công tác triển khai các mô hình sản xuất điển hình được quan tâm thực hiện với 10 mô hình tại 06 huyện, chủ yếu tập trung vào mô hình chăn nuôi giống bản địa, mô hình liên kết sản xuất rau, hoa, dược liệu, khảo nghiệm giống lúa, trồng ngô sinh khối.

c) Về lâm nghiệp: Triển khai Quyết định số 523/QĐ-TTg ngày 01/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 -2030, tầm nhìn đến năm 2050. Xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án 01 tỷ cây xanh của Chính phủ. Tập trung công tác chuẩn bị giống, khảo sát đất để thực hiện Kế hoạch trồng rừng năm 2021; đã sản xuất được 8.693 nghìn cây giống các loại. Tổng diện tích rừng trồng tập trung do nhân dân tự thực hiện ước đạt 3.172,8 ha (Diện tích trồng rừng mới là 1.332,5 ha, diện tích rừng trồng sau khai thác là 1.840,3 ha). Trồng cây phân tán được 1.018,2 nghìn cây các loại. Trong 6 tháng, đã xảy ra 03 vụ cháy với tổng diện tích bị cháy là 15,3 ha. Phát hiện 128 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp (tăng 21 vụ so với cùng kỳ).

d) Về thủy sản: Tiếp tục khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản ở lòng hồ thủy điện đối với các địa phương có điều kiện như Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên. Xây dựng chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm cá Bỗng; triển khai thực hiện “Đề án tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, định hướng đến năm 2030”. Trong 6 tháng, đã sản xuất và cung ứng dịch vụ trên 02 triệu con cá giống các loại; tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 1.000,9 tấn, tăng 2,15% so với cùng kỳ, trong đó, sản lượng thủy sản khai thác ước 68,3 tấn, tăng 2,4%; sản lượng thủy sản nuôi trồng ước 932,6 tấn, tăng 2,14%.

2. Lĩnh vực công nghiệp

Nhìn chung, hoạt động sản xuất công nghiệp phát triển ổn định. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng tăng 7,26% so với cùng kỳ; trong đó tăng cao nhất là nhóm ngành công nghiệp chế biến (tăng 21,8%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt (tăng 8,26%). Đối với ngành công nghiệp khai thác khoáng sản, do một số doanh nghiệp gặp khó khăn về lao động, đầu ra cho sản phẩm và một số dự án đang trong thời gian bảo dưỡng máy móc thiết bị, đầu tư xây dựng cơ bản nên chỉ số sản xuất giảm 8,9%.

3. Thương mại, dịch vụ và du lịch

a) Về thương mại, dịch vụ: đã tập trung quảng bá, trưng bày và giới thiệu sản phẩm đặc hữu của địa phương. Công tác kiểm soát hàng hóa được tăng cường, các cấp và các lực lượng chức năng thường xuyên phối hợp trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trên địa bàn tỉnh, đã thực hiện kiểm tra được 602 vụ, xử lý vi phạm hành chính 431 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 2.005 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm tiêu hủy là 748,5 trệu đồng. Kiểm soát tốt giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là các hàng hóa thiết yếu, vật tư y tế. Chỉ số giá bình quân 6 tháng đầu năm giảm 0,19 so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ước đạt 5.991,3 tỷ đồng, tăng 20,02% so với cùng kỳ năm trước, đạt 48,15% kế hoạch năm.

Về hoạt động xuất nhập khẩu. Tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa ước đạt 123,5 triệu USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2020 và đạt 45,7% kế hoạch. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng khá như: xuất khẩu chuối xanh tươi (gấp 3,7 lần), quả mít tươi (gấp 2 lần), tinh bột sắn (tăng 8,6%), ván bóc (tăng 18,2%), altimon kim loại (tăng 93%)… Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm sâu như năng lượng điện (giảm 85%), máy móc thiết bị (giảm 83%)… Tình hình buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới được kiểm soát, không phát sinh điểm nóng về buôn lậu.

Tình hình kinh doanh vận tải tiếp tục gặp khó khăn, các cơ sở kinh doanh vận tải hành khách phải ngừng hoạt động một số tuyến hoặc dừng hoạt động hoàn toàn trong một số thời điểm. Ngành vận tải hàng hóa có sự tăng trưởng so với cùng kỳ (tăng 13,75%). Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi đạt 284,08 tỷ đồng.

b) Về du lịch: Ban hành Kế hoạch Xúc tiến quảng bá du lịch - Thương mại tỉnh Hà Giang giai đoạn 2021 – 2025; xuất bản sách “Bách khoa thư du lịch Hà Giang”; Chỉ đạo các cơ sở lưu trú thực hiện nghiêm việc tạm dừng hoạt động trong các tình huống cần thiết để đảm bảo phòng chống dịch bệnh (dừng đón khách du lịch mới vào địa bàn tỉnh từ ngày 02/6/2021); đồng thời, chủ động phương án hoạt động trở lại khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát. Trong 6 tháng, lượng khách du lịch ước đạt 642.773 lượt người, đạt 37,8% kế hoạch. Tổng doanh thu từ khách du lịch ước đạt 1.157 tỷ đồng.

4. Giao thông, xây dựng

a) Về giao thông: Tích cực làm việc với các Bộ, ngành Trung ương, đề xuất triển khai về quy hoạch đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc kết nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai và tuyến cao tốc Hà Giang - Tuyên Quang kết nối với tuyến cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; đề xuất đầu tư giai đoạn 1 kết nối đến xã Tân Quang. Làm việc với Tổng cục Đường bộ triển khai dự án mở rộng Quốc Lộ 2 Km 285. Làm tốt công tác bảo trì đường bộ được giao quản lý; thường xuyên kiểm tra các tuyến đường vùng cao, vùng sâu; huy động trang thiết bị, phương tiện máy móc thi công, xử lý kịp thời các điểm sạt lở, tiềm ẩn tai nạn giao thông, đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông trên tuyến.

b) Về xây dựng: Tiếp tục triển khai thực hiện Kế hoạch số 134/KH-UBND của UBND tỉnh về công tác quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh. Tăng cường kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng đối với UBND các huyện, thành phố và các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình chuyên ngành trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công thẩm định báo cáo kinh tế - kỹ thuật 42 hồ sơ, đảm bảo chất lượng và hiệu quả dự án. Kiểm tra công tác nghiệm thu đưa 25 công trình vào sử dụng. Kịp thời công bố giá vật tư, vật liệu xây dựng hàng quý trên địa bàn tỉnh; công bố giá thép các loại hàng tháng tại trung tâm Thành phố Hà Giang.

5. Tài chính, tín dụng và đầu tư

a) Về thu, chi ngân sách nhà nước: Công tác thu ngân sách nhà nước được quan tâm chỉ đạo sát sao; chủ động tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả 6 tháng đầu năm: Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 7.556,6 tỷ đồng (NSTW hưởng 168,5 tỷ đồng, NSĐP hưởng 7.388,1 tỷ đồng), trong đó: Thu NSNN trên địa bàn đạt 940,1 tỷ đồng, đạt 50,3% kế hoạch TW giao, đạt 34,8% kế hoạch tỉnh giao và giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2020 (loại trừ thu tiền sử dụng đất và cấp quyền khai thác khoáng sản thì các khoản thu còn lại tăng 5,2% so với cùng kỳ).

Công tác chi ngân sách được thực hiện theo đúng quy định. ưu tiên cho công tác phòng chống dịch bệnh và các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, chương trình xây dựng nông thôn mới. Kết quả 6 tháng đầu năm: Tổng chi NSĐP đạt 6.420,4 tỷ đồng, trong đó: chi đầu tư phát triển 1.157 tỷ đồng, đạt 32,3% kế hoạch; chi thường xuyên 4.349 tỷ đồng, đạt 48% dự toán.

b) Về hoạt động tín dụng: Các tổ chức tín dụng đã tập trung triển khai nhiệm vụ tăng trưởng tín dụng, cung cấp vốn cho sản xuất kinh doanh; tổng dư nợ tín dụng ước đến 30/6/2021 đạt 24.776 tỷ đồng; trong 6 tháng đầu năm tăng 1.011 tỷ đồng, đạt tỷ lệ tăng 4,3%. Dư nợ cho vay tập trung chủ yếu ở nhóm ngành thương mại, dịch vụ (chiếm 28,4%); ngành sản xuất, phân phối điện, nước (chiếm 25,2%) và ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản (chiếm 17,6%). Hoạt động huy động vốn tại địa phương tăng trưởng khá, ước đến 30/6/2021 đạt 14.445 tỷ đồng (trong 6 tháng tăng 944 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 7%).

Triển khai ký Hợp đồng ủy thác nguồn vốn ngân sách địa phương qua Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh để cho vay theo Nghị quyết số 58/2020/NQ-HĐND với tổng kinh phí năm 2021 là 19.559,8 triệu đồng. Tiếp tục kiểm tra, giám sát và thực hiện thu hồi vốn vay theo Nghị quyết số 209/2015/NQ-HĐND, số 86/2017/NQ-HĐND và Nghị quyết số 29/2019/NQ-HĐND của HĐND tỉnh; trong 6 tháng đã thu hồi được 85 tỷ đồng, dư nợ còn lại là 137 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức an toàn, chiếm 0,34%/tổng dư nợ.

c) Về hoạt động đầu tư

- Về đầu tư công: Ban hành Kế hoạch số 90/KH-UBND ngày 22/3/2021 về đẩy mạnh thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021. Thường trực UBND tỉnh thường xuyên làm việc với các Ban quản lý dự án, sở ngành chuyên môn về tiến độ thực hiện các dự án khởi công mới, dự án trọng điểm, dự án ODA, kịp thời nắm bắt, giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh. Tỷ lệ giải ngân các nguồn vốn đến ngày 20/6/2021 đạt 31,1% so với kế hoạch (không bao gồm nguồn vốn ODA). Đối với các dự án khởi công mới năm 2021: Có 4/48 dự án đã được khởi công; 29/48 dự án được HĐND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư và đang triển khai các bước theo quy định; 15/48 dự án đang lập báo cáo và trình phê duyệt đề xuất chủ trương đầu tư. Số dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đang quản lý là 14 dự án; tiến độ giải ngân đạt 19,142 tỷ đồng/1.077,648 tỷ đồng đạt 1,77% kế hoạch. Tiến hành kiểm tra, rà soát, đánh giá hiệu quả đầu tư các công trình xây dựng cơ bản được đầu tư xây dựng từ NSNN trên địa bàn tỉnh. Xây dựng phương án phân bổ Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 theo chỉ đạo của Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương.

- Về thu hút đầu tư ngoài ngân sách: Thành lập Ban Thu hút đầu tư của tỉnh. Tổ chức rà soát, đánh giá hiệu quả 309 dự án đầu tư ngoài NSNN (301 dự án có vốn đầu tư trong nước; 08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài) sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư/quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh. Tổ chức khởi công Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái FLC Hà Giang. Hỗ trợ 17 doanh nghiệp khảo sát, nghiên cứu đầu tư dự án tại tỉnh đối với các lĩnh vực chế biến nông, lâm sản; dược liệu; thương mại; du lịch. Thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 07 dự án với vốn đầu tư 176,421 tỷ đồng (tăng 02 dự án so với cùng kỳ năm 2020), cấp điều chỉnh cho 14 dự án. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư, đã thông báo chấm dứt hoạt động 02 dự án.

6. Hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế, xây dựng nông thôn mới

a) Khu công nghiệp Bình Vàng: Tập trung khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý dự án đối với các dự án tại khu công nghiệp. Trong 6 tháng, có 01 dự án đầu tư mới, thu hồi 02 dự án; lũy kế tại KCN có 18 dự án (08 dự án đang hoạt động, 07 dự án đang đầu tư xây dựng và 03 dự án ngừng hoạt động). Tổng số lao động đang làm việc trong KCN là 397 lao động. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp đạt hơn 250 tỷ đồng, số thuế nộp ngân sách là hơn 20 tỷ đồng.

b) Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy: Thực hiện tốt công tác quản lý hạ tầng khu kinh tế. Duy trì hoạt động hệ thống cấp số tự động cho các phương tiện vận tải tham gia xuất khẩu, đảm bảo phục vụ tốt hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu. Trong 6 tháng không có dự án đầu tư mới, thu hồi 01 dự án; lũy kế có 42 dự án (22 dự án đã hoàn thành đi vào hoạt động; 16 dự án đang triển khai; 04 dự án tạm dừng hoạt động). Tổng số lao động đang làm việc trong KKT là 144 lao động. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp đạt hơn 50,4 tỷ đồng, số thuế nộp ngân sách là hơn 4,3 tỷ đồng.

c) Chương trình xây dựng nông thôn mới: Ban hành Kế hoạch thực hiện xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2021; phân bổ vốn để tổ chức thực hiện 8 xã phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2021. Hoàn thành tổ chức đấu thầu mua xi măng hỗ trợ thực hiện bê tông hóa đường giao thông nông thôn năm 2021. Tổng kinh phí đã bố trí cho xây dựng NTM đạt 187,412 tỷ đồng; trong đó tỉnh đã thực hiện ứng trước kế hoạch vốn đầu tư phát triển CTMTQG xây dựng NTM 2021 là 55 tỷ đồng cho 08 xã đăng ký hoàn thành xây dựng NTM. Hoàn thiện 02 Đề án xây dựng huyện nông thôn mới đối với huyện Bắc Quang và Quang Bình. Tích cực triển khai các phong trào xây dựng nông thôn mới, tiêu biểu như “Quân đội chung sức xây dựng NTM”, “Ngày nghỉ hướng về NTM”, vận động hội viên phụ nữ chủ động tham gia các hoạt động xây dựng NTM, phát triển kinh tế, thực hiện hiệu quả cuộc vận động xây dựng “gia đình 5 không, 3 sạch”.

Trong 6 tháng đầu năm, đã làm được 60,9 km đường bê tông các loại; bó láng nền nhà 837 hộ, xây dựng nhà tắm 1.657 công trình; cứng hóa, di dời chuồng trại 544 công trình; xây 761 bể nước; nhân dân đã hiến 227.615 m2 đất, đóng góp trên 114.033 ngày công lao động; kết quả chung sức xây dựng NTM, quyên góp, hỗ trợ được 13.281 triệu đồng. Đối với 08 xã phấn đấu đạt chuẩn năm 2021, đến nay có 07 xã đạt 14/19 tiêu chí (Gồm: xã Vô Điếm, Liên Hiệp, Việt Hồng, Đồng Tâm, huyện Bắc Quang; xã Nậm Dịch, huyện Hoàng Su Phì; xã Tân Nam, Yên Thành, huyện Quang Bình) và 01 xã đạt 13/19 tiêu chí (xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên). Tổng số tiêu chí trên toàn tỉnh đạt 2.370 tiêu chí, tăng 11 tiêu chí.

7. Cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển các thành phần kinh tế

a) Về cải thiện môi trường kinh doanh: Ban hành Kế hoạch số 67/KH-UBND ngày 3/3/2021 thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh quốc gia năm 2021. Các cơ quan, đơn vị đã hoàn thành xây dựng Kế hoạch cải thiện chỉ số PCI năm 2021 trên từng lĩnh vực với những giải pháp cụ thể, tập trung vào những chỉ số thành phần bị giảm điểm.

Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện các thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020. Tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân tăng cường nộp hồ sơ qua mạng điện tử, tỷ lệ hồ sơ nộp qua hình thức này đạt trên 35%, giảm bớt thời gian đi lại của tổ chức, công dân. Tập trung chuẩn hóa quy trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến, đến nay 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện đã được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng thông qua Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (dư nợ 1.645 tỷ đồng); Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp (dư nợ 6.686 tỷ đồng). Hướng dẫn các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hồ sơ khai thuế qua mạng Internet và thực hiện đăng ký khai thuế điện tử đạt 99%; hỗ trợ cho vay 50,4 tỷ đồng cho các doanh nghiệp để tạo việc làm cho người lao động.

b) Về hoạt động khởi nghiệp: Tích cực hỗ trợ các khởi nghiệp viên, các doanh nghiệp tìm hiểu các cơ chế, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp của Quốc gia và của Tỉnh. Hỗ trợ Dự án chế biến các sản phẩm từ cam sành của Công ty cổ phần Cam Ta đạt top 20 dự án xuất sắc của Cuộc thi khởi nghiệp quốc gia năm 2020 do Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức. Hỗ trợ 04 khởi nghiệp viên tìm hiểu các cơ chế, chính sách của tỉnh đối với sản xuất chè và các sản phẩm nông nghiệp sạch; tư vấn trình tự thủ tục đăng kí nhãn hiệu sản phẩm cho 01 doanh nghiệp, hướng dẫn 02 khởi nghiệp viên phương thức đăng ký đề án Lựa chọn hoàn thiện nhân rộng mô hình HTX kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 3/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ 01 doanh nghiệp thực hiện dự án Liên kết chăn nuôi Bò sinh sản và Bò thịt tỉnh Hà Giang tiếp cận nguồn vốn vay của Quỹ hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tuyên truyền, thu hút khởi nghiệp viên tham gia 06 cuộc thi về khởi nghiệp.

c) Về phát triển các thành phần kinh tế: Trong 6 tháng đầu năm có 117 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc (DN và ĐVTT) đăng ký thành lập mới (tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2020) với số vốn đăng ký là 1.766,699 tỷ đồng (gấp 4,2 lần so với cùng kỳ). Số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới là 28 tỷ đồng. Số DN và ĐVTT hoạt động trở lại tăng 50% so với cùng kỳ với 69 DN và ĐVTT. Số DN và ĐVTT giải thể và tạm ngừng hoạt động giảm so với cùng kỳ. Điều này thể hiện niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với khả năng phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Về phát triển kinh tế tập thể, trong 6 tháng có 47 HTX thành lập mới với tổng số thành viên mới gia nhập là trên 1.050 thành viên. Tuy nhiên vẫn còn 15 HTX ngừng hoạt động và 34 HTX thu hồi, giải thể.

8. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Thực hiện quản lý 42 đề tài, dự án khoa học; tổ chức nghiệm thu cấp tỉnh 08 đề tài, dự án; công nhận kết quả 06 đề tài dự án cấp tỉnh; kiểm tra tiến độ 06 đề tài, dự án. Tiếp nhận dự án “Xây dựng hệ thống đường ống cấp nước Lùng Lú bằng hệ thống bơm năng lượng mặt trời”. Hỗ trợ 12 doanh nghiệp, hợp tác xã in 4,5 triệu tem truy xuất nguồn gốc bằng chất liệu Decal vỡ cho sảm phẩm cam tiêu thụ tại các siêu thị, điểm bán hàng. Cấp 01 giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN; toàn tỉnh hiện có 04 doanh nghiệp KH&CN. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành được triển khai kịp thời, đã tổ chức thanh tra 07 cơ sở kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường; kiểm tra về công tác quản lý trong đo lường đối với đồng hồ đo đếm điện năng và đồng hồ nước lạnh trên địa bàn 07 huyện.