Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG THÁNG 9 VÀ 9 THÁNG NĂM 2021

KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG THÁNG 9 VÀ 9 THÁNG NĂM 2021

1. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu nổi bật trong 9 tháng

- Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP giá so sánh 2010) quý III năm 2021 ước đạt 3.985,4 tỷ đồng, tăng 4,56% so với quý cùng kỳ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2021 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 4,1%.

- Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 177.199 ha, tăng 0,74% so với năm 2020 bằng 1.301 ha. Tổng sản lượng lương thực (vụ Đông Xuân và vụ Mùa) ước đạt 421.115 tấn, tăng 1,57% so với năm 2020 bằng 6.504 tấn.

- Tổng dư nợ tín dụng đạt 25.445 tỷ đồng, tăng 7,1% so với thời điểm cuối năm 2020, đạt 99,1% KH.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 7.891,9 tỷ đồng, tăng 1,43% so với cùng kỳ, đạt 65,8% KH. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước 2.301,8 tỷ đồng, tăng 20,18%; vốn của doanh nghiệp và dân cư 4.976,5 tỷ đồng, giảm 6,95%.

- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 10,43% so cùng kỳ (KH năm tăng 6,8%). Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) đạt 5.638,5 tỷ đồng, tăng 18,7% so cùng kỳ.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 8.995,6 tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ, đạt 72,3% KH.

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.532,8 tỷ đồng (so với cùng kỳ năm 2020 giảm 2,1%); đạt 82,1% KH TW giao, đạt 56,8% KH Tỉnh giao.

- Trồng rừng tập trung được 5.437 ha, tăng 20% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó trồng rừng theo kế hoạch giao đạt 553,1 ha, đạt 76,1% KH.

- Lũy kế có 5.089 hộ gia đình triển khai xây dựng nhà ở, vượt 88 hộ so với KH.

- Tỷ lệ sử dụng chữ ký số cá nhân: Cấp tỉnh có 19/20 đơn vị đạt từ 98% trở lên; cấp huyện có 9/11 huyện đạt từ 80% trở lên. Cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đối với 100% TTHC đủ điều kiện (1.568 TTHC).

2. Về phát triển kinh tế

2.1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: Diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển. Sản xuất vụ Xuân và vụ Mùa đều đạt kết quả tốt; diện tích, năng suất và sản lượng các loại cây trồng chính đều tăng so với cùng vụ năm 2020. Chăn nuôi được triển khai tích cực, đặc biệt là công tác tái đàn lợn, công tác thụ tinh nhân tạo để cải tạo đàn trâu, bò.

a) Về trồng trọt: Trong tháng 9, các địa phương đã tập trung chăm sóc và thu hoạch vụ Mùa; diện tích, năng suất và sản lượng các cây trồng đều tăng so với cùng vụ năm 2020. Diện tích lúa gieo trồng đạt 28.374 ha (tăng 66 ha so với cùng vụ năm 2020), sản lượng ước đạt 164.793 tấn (tăng 2.444 tấn); ngô gieo trồng đạt 34.824 ha (tăng 285 ha), sản lượng ước đạt 130.590 tấn (tăng 1.575 tấn); đậu tương 8.596 ha (giảm 78 ha, sản lượng ước đạt 13.564 tấn (tăng 91,6 tấn); lạc 3.628 ha (tăng 04 ha), sản lượng ước 9.153 tấn (tăng 364 tấn); rau các loại 7.208 ha (tăng 123 ha), sản lượng 34.470 tấn (tăng 1.407 tấn).

Từ kết quả sản xuất vụ Đông Xuân và vụ Mùa, ước tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 177.199 ha, tăng 0,74% so với năm 2020 bằng 1.301 ha. Tổng sản lượng lương thực cả năm ước đạt 421.115 tấn, tăng 1,57% so với năm 2020 bằng 6.504 tấn. Cơ cấu giống lúa đã được xây dựng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và thực tế của địa phương, với 60% là các giống lúa lai và 40% giống lúa thuần chất lượng cao; đối với cây ngô tỷ lệ sử dụng giống ngô lai đạt 85% trở lên. Tập trung chuyển đổi trên 127,5 ha đất trồng lúa không chủ động nước tưới sang trồng các loại cây trồng khác phù hợp với từng vùng, địa phương. Thực hiện trồng cây Ngô sinh khối với diện tích 315 ha, tăng 225 ha so với cùng kỳ.

Chuẩn bị các điều kiện, phương án cho việc tiêu thụ sản phẩm cam niên vụ 2021-2022, Tỉnh đã tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình sản xuất và bàn giải pháp cụ thể xúc tiến, tiêu thụ sản phẩm cam; nghiên cứu mở rộng kênh tiêu thụ trên các sàn thương mại điện tử; tăng cường truyền thông, quảng bá giới thiệu sản phẩm cam Hà Giang trên các nền tảng truyền thông số.

b) Về chăn nuôi: Tập trung phát triển chăn nuôi theo qui mô gia trại, trang trại để hình thành sản xuất hàng hóa; đến nay, toàn tỉnh đã có 157 trang trại, tăng 18 trang trại so với cuối năm 2020. Triển khai kế hoạch thụ tinh nhân tạo cho đàn trâu, bò để gia tăng tổng đàn, cải tạo chất lượng, tầm vóc đàn gia súc; đã thực hiện cho 3.383 con trâu, bò; số con thành công 2.321 con (đạt tỷ lệ 68,6%). Ước tổng đàn trâu 158.137 con, giảm 0,96% so với cùng kỳ (bằng 1.531 con); đàn bò 125.667 con, tăng 3,16% so với cùng kỳ (bằng 3.852 con). Tái đàn lợn được 64.152 con; quy mô đàn lợn ước đạt 566.670 con, tăng 5,66% so với cùng kỳ (bằng 30.355 con). Đàn gia cầm phát triển ổn định với 6.294 nghìn con, tăng 4,44% so với cùng kỳ (bằng 267 nghìn con). Sản lượng thịt hơi các loại tăng 3,6% so với cùng kỳ (bằng 3.662 tấn), đạt 41.531 tấn.

c) Về lâm nghiệp: Đã ban hành kế hoạch triển khai Đề án Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021 -2025 trên địa bàn tỉnh. Thực hiện trồng rừng tập trung được 5.437 ha (Trong đó: Trồng rừng mới là 553,1 ha/726,5 ha, đạt 76,1% KH); trồng cây phân tán được 1.431,3 nghìn cây các loại. Tiếp tục chăm sóc 1.862,3 ha rừng, đạt 99,5% KH. Thực hiện kiểm tra các địa bàn trọng điểm về chặt phá rừng (Như: huyện Bắc Mê, huyện Quang Bình). Phát hiện và xử lý 218 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp (tăng 28 vụ so với cùng kỳ).

d) Về thủy sản: Các cơ sở nuôi trồng thủy sản tập trung nuôi vỗ các đàn cá thịt; chủ động tu sửa hệ thống nuôi trồng, chuẩn bị các phương án bảo vệ an toàn ao nuôi, lồng bè trong mùa mưa lũ. Tổng sản lượng thủy sản tháng 9 ước đạt 105,2 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ; lũy kế 9 tháng ước đạt 1.310 tấn, tăng 2,0 % so với cùng kỳ.

e) Về Chương trình OCOP: Tập trung hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện Kế hoạch số 116/KH-UBND; đến nay có 11/11 huyện, thành phố đã xây dựng Kế hoạch triển khai và đăng ký 89 sản phẩm của các doanh nghiệp, HTX, hộ gia đình để tham gia đánh giá và phân hạng. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 193 sản phẩm được phân hạng và công nhận đạt sao OCOP (trong đó: 38 sản phẩm đạt 4 sao, 153 sản phẩm đạt 3 sao, 02 sản phẩm được Trung ương đánh giá đạt 5 sao) của 87 chủ thể tham gia.

2.2. Sản xuất công nghiệp: Tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ năm 2020, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất điện.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9 ước tăng 2,36% so với tháng trước, tăng 18,1% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ước tăng 10,43% so với cùng kỳ. Trong đó tăng cao nhất là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,65%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước tăng 9,24%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 2,42%; ngành công nghiệp khai khoáng mặc dù đã có sự tăng trưởng trong những tháng gần đây (tháng 9 tăng 13,67% so với tháng 8 và tăng 11,05% so với cùng kỳ) nhưng không thể bù đắp được mức giảm sâu của những tháng đầu năm, tính chung 9 tháng chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 6,11% so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) tháng 9 ước đạt 912,5 tỷ đồng, tăng 7,58% so tháng tháng 8, tăng 22,84% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ước đạt 5.638,5 tỷ đồng, tăng 18,66% so với cùng kỳ. Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ như: Ván ép từ gỗ và vật liệu tương tự (+100,34%); sản phẩm bằng vật liệu tết bện (+16,97%); bột giấy từ gỗ loại hòa tan (+57,17%); sản phẩm in (+50,75%); xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa (+7,5%); điện sản xuất (+8,29%)… Tuy nhiên, một số sản phẩm sản xuất giảm so với cùng kỳ như đá xây dựng (-16,03%); bê tông tươi (-5,95%); tinh quặng sắt đã nung kết không sản xuất.

2.3. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch: Có nhiều khởi sắc, tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ năm 2020. Riêng ngành du lịch chịu ảnh hưởng, tác động rất lớn của dịch Covid-19, doanh thu dịch vụ lưu trú và lữ hành giảm sâu so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 ước đạt 1.034,7 tỷ đồng, tăng 5,19% so với tháng trước, tăng 6,12% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng ước đạt 8.995,6 tỷ đồng, tăng 14,42% so với cùng kỳ, đạt 73,2% KH. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.296,6 tỷ đồng, tăng 16,04%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 1.039,6 tỷ đồng, tăng 10,52%; doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 59,1 tỷ đồng, giảm 3,24%; doanh thu dịch vụ lữ hành đạt 5,7 tỷ đồng, giảm 68,12%; doanh thu dịch vụ khác đạt 594,6 tỷ đồng, tăng 7,13%. Giá cả hàng hóa được kiểm soát tốt, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh 9 tháng giảm 0,12% so với cùng kỳ. Thực hiện quyết liệt công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; đã thực hiện kiểm tra 867 vụ, phát hiện và xử lý vi phạm hành chính 594 vụ, thu nộp kho bạc nhà nước 2,7 tỷ đồng; tiêu hủy hàng hóa trị giá trên 01 tỷ đồng.

Tổng doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi tháng 9 ước đạt 49 tỷ đồng, tăng 6,3% so với tháng 8, giảm 18,5% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng ước đạt 422,6 tỷ đồng, tăng 0,32% so với cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách 139 tỷ đồng, giảm 3,49% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa 276,1 tỷ đồng, tăng 2,25%; doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 7,5 tỷ đồng, tăng 4,13%.

Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 9 ước đạt 27,97 triệu USD, tăng 80,2% so với tháng 8, tăng 36,4% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng ước đạt 194,1 triệu USD, tăng 2,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Xuất khẩu đạt 157,38 triệu USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ; nhập khẩu 36,63 triệu USD, giảm 31,7% so với cùng kỳ.

Lượng khách du lịch đến Hà Giang trong 9 tháng đạt 688.268 lượt người, tăng 19,6% so với cùng kỳ, đạt 40,5% KH. Toàn tỉnh có 114 hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ hoạt động nhưng đến nay có tới 50/114 hướng dẫn viên không hoạt động; 71/891 cơ sở lưu trú du lịch dừng hoạt động (chiếm 7,9%).

2.4. Tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển

a) Thu, chi ngân sách

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 9 ước đạt 220,5 tỷ đồng (giảm 11,2 tỷ đồng so với tháng 8); lũy kế 9 tháng ước đạt 1.532,8 tỷ đồng (giảm 2,1% so với cùng kỳ 2020), đạt 82,1% dự toán TW giao và 56,8% dự toán Tỉnh giao. Trong đó:

- Thu nội địa tháng 9 đạt 208,1 tỷ đồng, lũy kế đạt 1.402,5 tỷ đồng, đạt 84,6% dự toán TW giao, đạt 58,4% dự toán Tỉnh giao. Có 9/15 khoản thu, sắc thuế có số thu đạt trên 75% dự toán Tỉnh giao, các khoản thu còn lại không đạt tiến độ đề ra, riêng thu tiền sử dụng đất mới đạt 9,1% dự toán. Theo Kế hoạch có 19 cơ sở nhà, đất thực hiện bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; đến nay mới hoàn thành được 02/19 cơ sở; 05/19 cơ sở đang tổ chức bán đấu giá; 12 cơ sở đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để tổ chức bán đấu giá. Theo địa bàn, có 05/11 huyện đạt trên 75%; 03/11 huyện đạt từ 60% đến dưới 75%; 02 huyện còn lại đạt thấp.

- Thu thuế xuất nhập khẩu tháng 9 đạt 8,5 tỷ đồng, lũy kế đạt 70 tỷ đồng (giảm 56,2% so với cùng kỳ 2020), đạt 33,3% dự toán TW giao, đạt 25,9% dự toán Tỉnh giao. Một số mặt hàng có số thuế xuất nhập khẩu giảm sâu như nhập khẩu năng lượng điện giảm 89,34% do Tập đoàn điện lực Việt Nam dừng nhập khẩu điện của Trung Quốc từ tháng 02/2021; nhập khẩu máy móc thiết bị giảm 84,38% do doanh nghiệp chưa triển khai các dự án mới...

- Thu tài trợ, huy động đóng góp tháng 9 đạt 3,9 tỷ đồng; lũy kế đạt 60,3 tỷ đồng, tăng 2,3 lần so với KH Tỉnh giao.

Chi ngân sách địa phương 9 tháng ước đạt 9.141 tỷ đồng, đạt 62,5% kế hoạch; trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.383 tỷ đồng, đạt 38,6% KH; chi thường xuyên 6.485,4 tỷ đồng, đạt 71,4% KH. Thực hiện Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 8/6/2021 của Chính phủ, đã thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên, cắt giảm 50% kinh phí hội nghị, công tác trong và ngoài nước còn lại của năm 2021; dự kiến tiết kiệm, cắt giảm được 25,5 tỷ đồng.

 b) Tín dụng: Tập trung triển khai các chương trình tín dụng nhằm kích thích các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh phát triển; trong 9 tháng doanh số cho vay tín dụng đạt 19.455 tỷ đồng, đưa tổng dư nợ tín dụng đạt 25.445 tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm 2020 (KH cả năm tăng 8%), tập trung vào các lĩnh vực như: Ngành thương mại và dịch vụ chiếm 30,1%/tổng dư nợ; ngành sản xuất, phân phối điện, nước chiếm 24,4%/tổng dư nợ; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,3%/tổng dư nợ… Các chương trình tín dụng chính đó là: Cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP tăng 1.161 tỷ đồng, dư nợ đạt 10.763 tỷ đồng; cho vay Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tăng 6.238 tỷ đồng, dư nợ đạt 12.860 tỷ đồng; cho vay theo Quyết định 2204/QĐ-UBND của UBND tỉnh (Đề án Đầu tư tín dụng cho HTX) tăng 8 tỷ đồng, dư nợ đạt 75 tỷ đồng... Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn, ước đến hết tháng 9 nợ xấu chiếm 0,34%/tổng đầu tư tín dụng.

c) Đầu tư công: Tập trung thực hiện các văn bản, công điện chỉ đạo của Trung ương về đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021; Tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 90/KH-UBND ngày 22/3/2021 nhằm xây dựng lộ trình cụ thể công tác giải ngân các nguồn vốn; ban hành Công điện số 3457/CĐ-CT ngày 30/8/2021 và nhiều văn bản đôn đốc các chủ đầu tư tập trung thực hiện các nhóm giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Thực hiện điều chỉnh 106,1 tỷ đồng kế hoạch vốn đối với các dự án chậm giải ngân; trong đó: NSTW là 66,3 tỷ đồng; cân đối NSĐP là 39,79 tỷ đồng. Chỉ đạo các nhà thầu thi công các dự án tập trung nhân lực (đảm bảo trong công tác phòng dịch covid), phương tiện, trang thiết bị đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án, nhất là công tác bồi thường giải phóng mặt bằng… Đẩy nhanh công tác lập hồ sơ quyết toán; rút ngắn thời gian kiểm soát chi. Đã thực hiện quyết toán 91 dự án, tổng giá trị quyết toán giảm 43,4 tỷ đồng so với dự toán duyệt, giảm 6,8 tỷ đồng so với giá trị quyết toán A-B. Thu hồi tạm ứng được 283,013 tỷ đồng; số dư tạm ứng còn lại là 374,859 tỷ đồng. Có 08/24 dự án khởi công mới đã tổ chức lựa chọn nhà thầu chuẩn bị khởi công.  Đến ngày 22/9/2021, giải ngân được 1.473,3 tỷ đồng, đạt 36,3% KH. Ước thực hiện đến 30/9/2021 giải ngân được 1.858,0 tỷ đồng, đạt 50,3% KH (Đã tính phần giảm trừ 364,402 tỷ đồng nguồn vốn ODA do hoàn trả ngân sách trung ương). Trong đó:

(i) Nguồn vốn cấn đối ngân sách địa phương ước đạt 685,8 tỷ đồng/1.453,2 tỷ đồng, đạt 47,2% KH (Kế hoạch vốn ngân sách địa phương do Trung ương giao là 628,8 tỷ đồng/930,7 tỷ đồng, đạt 67,6% KH).

(ii) Nguồn vốn ngân sách Trung ương (trong nước) ước đạt 708,05 tỷ đồng/1.123,35 tỷ đồng, đạt 63,03% KH.

(iii) Nguồn vốn ODA ước đạt 164,6 tỷ đồng/596,5 tỷ đồng, đạt 27,6% KH.

(iv) Nguồn vốn Nông thôn mới ứng trước ước đạt 15,2 tỷ đồng/55 tỷ đồng, đạt 27,6% KH;

(v) Nguồn vốn kéo dài 284,3 tỷ đồng/465,8 tỷ đồng, đạt 61,0% KH.

2.5. Tích cực triển khai các giải pháp hỗ trợ, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã

Triển khai Kế hoạch thực hiện nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thu hút đầu tư giai đoạn 2021-2025. Tổ chức thành lập Ban Thu hút đầu tư của tỉnh với mục tiêu đồng hành cùng nhà đầu tư để tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện các thủ tục đầu tư. Phối hợp với Tập đoàn FLC tổ chức Lễ khởi công dự án Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng FLC Hà Giang. Tập trung rà soát, đăng tải công khai thông tin quy hoạch lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh; ban hành và triển khai Phương án khảo sát thu thập thông tin đánh giá năng lực điều hành về kinh tế của các sở, ban, ngành và địa phương (DDCI) tỉnh Hà Giang năm 2021. Thực hiện hỗ trợ 18 doanh nghiệp nghiên cứu, khảo sát đầu tư tại tỉnh. Tập trung giải quyết khó khăn, vướng mắc và đôn đốc các doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án trọng điểm thu hút đầu tư (Như: Công ty cổ phần Bông Sen Vàng, Công ty truyền thông Hoa Sao...). Tổ chức nghiên cứu, xây dựng hướng dẫn thực hiện quy trình thủ tục các dự án đầu tư để nâng cao năng lực trách nhiệm của Ban thu hút đầu tư và các Tổ thu hút đầu tư tại các Sở, ngành.

Trong 9 tháng, có 16 dự án đầu tư mới với tổng vốn đăng ký là 2.516,231 tỷ đồng; có 02 dự án chấm dứt hoạt động. Tổ chức rà soát, đánh giá hiệu quả 324 dự án đầu tư ngoài NSNN sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư/quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh. Trong đó tập trung rà soát, làm việc cụ thể với chủ đầu tư của 52 dự án hoàn thành và đi vào hoạt động nhưng chưa đảm bảo các thủ tục pháp lý, 50 dự án chậm tiến độ.

Công tác giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp được thực hiện tốt; rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ xuống còn 01 ngày làm việc; tỷ lệ tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thực hiện qua môi trường điện tử đạt 50%. Hỗ trợ 01 dự án chế biến sản phẩm cam sành tham gia Cuộc thi khởi nghiệp quốc gia năm 2020 và đạt top 20 dự án xuất sắc. Hỗ trợ 08 khởi nghiệp viên tìm hiểu và tiếp cận với các cơ chế, chính sách của Tỉnh và Trung ương. Trong 9 tháng có 183 doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc (gọi chung là doanh nghiệp) đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 2.015,5 tỷ đồng; có 79 doanh nghiệp hoạt động trở lại; tuy nhiên vẫn có 26 doanh nghiệp giải thể và 97 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Lũy kế toàn tỉnh có 2.853 doanh nghiệp (không tính các đơn vị đã giải thể). Thực hiện hỗ trợ 04 doanh nghiệp sau cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp triển khai các thủ tục để đi vào hoạt động. Về hợp tác xã, thành lập mới được 47 HTX với trên 1.050 thành viên gia nhập; có 15 HTX ngừng hoạt động và 34 HTX thu hồi, giải thể; lũy kế số HTX toàn tỉnh đến nay là 736 HTX.

2.6. Triển khai tốt các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất

Ban hành và triển khai Kế hoạch đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp, hợp tác xã tỉnh Hà Giang đến năm 2025; Kế hoạch triển khai Chương trình hỗ trợ Doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa giai đoạn 2021-2025. Hỗ trợ 12 doanh nghiệp, hợp tác xã in và sử dụng 4,5 triệu tem thông minh truy suất nguồn gốc sản phẩm trước khi đưa vào tiêu thụ tại các siêu thị, điểm bán hàng. Tiếp tục triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống và phát triển cây sâm cau trên địa bàn tỉnh Hà giang” và “Xây dựng mô hình chăn nuôi gà xương đen tại xã Tả Lủng, huyện Đồng Văn”, đảm bảo tiến độ, hiệu quả. Tiếp nhận và triển khai dự án cấp nước Lùng Lú bằng hệ thống bơm năng lượng mặt trời nhằm gia tăng khả năng tiếp cận nguồn nước sạch tại các huyện vùng cao.

2.7. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

Các huyện, thành phố tập trung triển khai các bước về lập Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thời kỳ 2021-2030; lập kế hoạch sử dụng đất năm 2022. Đến nay, đã có 08/11 huyện, thành phố trình Hội đồng thẩm định; 03/11 huyện đang xin ý kiến các sở, ngành trước khi trình xin ý kiến Hội đồng thẩm định. Hoàn thiện bổ sung kế hoạch định giá đất cụ thể để làm căn cứ tính tiền bồi thường, xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất năm 2021. Kiểm tra việc khai thác sử dụng tài nguyên nước và việc lắp đặt quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng tại 12 đơn vị. Tổ chức tuyên truyền và triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày đất ngập nước thế giới, Tháng hành động vì môi trường, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam. Chỉ đạo hoàn thành bảo dưỡng 22 trạm quan trắc mưa tự động tại các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, Vị Xuyên, Quản Bạ để phục vụ trong mùa mưa lũ.

2.8. Công tác phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp

 Tập trung chấn chỉnh công tác quản lý đất đai, giải quyết vướng mắc về giải phóng mặt bằng các dự án tại Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy và Khu công nghiệp Bình Vàng. Tổ chức làm việc cụ thể với 16 nhà đầu tư có dự án chậm tiến độ để tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, yêu cầu cam kết tiến độ và thời gian hoàn thành dự án. Công tác quản lý vận hành hệ thống cấp số tự động cho các phương tiện vận tải tham gia xuất khẩu trong Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy được thực hiện tốt. Cụ thể:

- Tại Khu công nghiệp Bình Vàng: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp như trạm xử lý nước thải, đường D1, D2… Trong 9 tháng có 03 dự án đầu tư mới với tổng vốn 51,5 tỷ đồng; 02 dự án điều chỉnh mở rộng quy mô; tuy nhiên cũng có 02 dự án thu hồi. Lũy kế đến nay trong Khu có 20 dự án đầu tư, tổng vốn đầu tư đạt 3.559,982 tỷ đồng với 400 lao động. Trong 9 tháng tổng doanh thu của các dự án trong Khu đạt 438 tỷ đồng.

- Tại Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy: Thực hiện điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 02 dự án; chuyển nhượng 01 dự án. Lũy kế đến nay trong Khu có 42 dự án với tổng vốn đầu tư 2.861,85 tỷ đồng với 146 lao động. Trong 9 tháng tổng doanh thu của các dự án trong Khu đạt 172 tỷ đồng.