Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Kết quả phát triển kinh tế - xã hội tháng 11 năm 2022

KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 11 NĂM 2022

1. Sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản

- Trồng trọt:  Hiện nay các địa phương trong tỉnh tập trung chăm sóc, thu hoạch rau màu vụ Mùa và triển khai sản xuất cây trồng vụ Đông 2023. Năng suất sản lượng các cây trồng vụ Mùa đạt khá. Tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông là 10.877 ha/12.600 ha, đạt 86,3% kế hoạch. Do ảnh hưởng thời tiết, xuất hiện một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng trên cây ngô, lạc và cây đậu tương; các địa phương triển khai các biện pháp phòng trừ sâu bệnh, đảm bảo ổn định sản xuất. Tình hình dịch bệnh đối với cây cam diễn biến trên diện rộng, nguy cơ sụt giảm lớn diện tích trong thời gian tới.

- Chăn nuôi: Thực hiện tái đàn lợn được 10.987 con. Lũy kế từ đầu năm đến nay thực hiện tái đàn được 73.401 con. Tổ chức kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y được 3.235 con gia súc (trâu 20 con, bò 61 con, lợn 3.154 con). Triển khai tiêm phòng được 14.411 lượt con gia súc, gia cầm

- Lâm nghiệp: Trồng rừng tập trung được 109,5 ha; lũy kế đến nay trồng được 4.850/4.200 ha, đạt 115,5% kế hoạch. Trồng cây phân tán lũy kế 2.173,1 nghìn cây. Tổ chức chăm sóc rừng trồng được 2.214,6 ha/2.251,2 ha, đạt 98,4%. Phát hiện 09 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, đã xử lý hành chính 09 vụ. Trong đó: Tịch thu 2,417 m3 gỗ các loại; thu nộp Ngân sách Nhà nước 178,25 triệu đồng.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 17,47% so với tháng trước, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Công nghiệp chế biến chế tạo tăng 3,94% so với tháng trước, tăng 5,03% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 21,89% so với tháng trước (do bước vào mùa khô, lưu lượng nước về lòng hồ giảm), tăng 35,06% so với cùng kỳ; công nghiệp khai khoáng giảm 20,47% so với tháng trước, tăng 77,37% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành ước đạt 410,2 tỷ đồng, giảm 8,36 % so với tháng trước và tăng 23,02% so với cùng kỳ.

3. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch

a) Về thương mại, dịch vụ và giá cả: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.083,8 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 43,88% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 2,99% so với cùng kỳ. Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm và kiểm soát thị trường hàng hóa, kết quả đã xử lý vi phạm hành chính 87 vụ và thu nộp ngân sách nhà nước 371 triệu đồng.

Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục gặp khó khăn; kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 11 đạt 2,74 triệu USD, giảm 48,23% so với tháng trước, giảm 66,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi ước đạt 65,4 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 42,58% so với cùng kỳ.

b) Hoạt động du lịch: Hoạt động du lịch tiếp tục tăng trưởng mạnh, nhất là trong thời điểm diễn ra nhiều các hoạt động như: Giải đua xe “Tinh thần đá” lần thứ III; Lễ hội hoa Tam giác mạch lần thứ VIII năm 2022... Lượng khách du lịch đến Hà Giang trong tháng 11 đạt 225.000 lượt người, doanh thu du lịch đạt 450 tỷ đồng.

4. Tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển

a) Quản lý thu, chi ngân sách: Hoạt động thu thuế và phí đạt kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 11 đạt 176 tỷ đồng, trong đó thu thuế và phí 170 tỷ đồng, thu xuất nhập khẩu 03 tỷ đồng, thu khác 03 tỷ đồng. Lũy kế 11 tháng, thu thuế và phí đạt 1.882 tỷ, trong đó có 04/12 địa bàn đã vượt số thu dự toán Tỉnh giao. Chi ngân sách nhà nước tháng 11 ước đạt 2.709 tỷ đồng.

b) Tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng ước đạt 28.162 tỷ đồng, tăng 17 tỷ đồng so với tháng trước, tăng 2.133 tỷ đồng so với 31/12/2021 tương đương với tỷ lệ tăng 8,2%. Doanh số cho vay trong tháng đạt 3.570  tỷ đồng (tăng 86 tỷ đồng so với tháng trước) Ngân hàng chính sách xã hội tiếp tục thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, doanh số cho vay trong tháng đạt 45 tỷ đồng, tổng dư nợ ước đạt 4.211 tỷ đồng. Ngoài ra, thực hiện cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội với tổng dư nợ ước đạt 4.204 tỷ đồng/90.221 hộ, tăng 15 tỷ đồng so với tháng trước, tăng 608 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước.

c)  Đầu tư công: Triển khai thực hiện công điện của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành công điện số 3598/CĐ-CT ngày 14/11/2022 của về việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2022 và đầu năm 2023; tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị về tăng cường công tác quản lý nhà nước về đầu tư và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Chỉ đạo các cấp, các ngành, các đơn vị chủ đầu tư, đơn vị, địa phương hoàn thiện các thủ tục đầu tư, nhất là các dự án đầu tư từ NSNN thực hiện 03 Chương trình MTQG; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các trọng điểm của tỉnh để giải ngân vốn đầu tư công. Tiếp tục thực hiện rà soát điều chỉnh các nguồn vốn để đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn năm 2022. Kết quả giải ngân đến ngày 18/11/2022, Kế hoạch vốn giao đầu năm 2022 (Quyết định số 2048/QĐ-TTg ngày 06/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ) giải ngân 1.854,9 tỷ đồng/3.355,2 tỷ đồng, đạt 55,3% kế hoạch. Trong đó, nguồn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương giải ngân 660,0 tỷ đồng/966,3 tỷ đồng, đạt 68,3% kế hoạch; Vốn ngân sách Trung ương Giải ngân 1.195,0 tỷ đồng/2.389,0 tỷ đồng, đạt 50,02% so với kế hoạch

Một số chủ đầu tư có tỷ lệ giải ngân tốt (Sở Xây dựng; Công ty Điện lực; Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Bộ chỉ huy bộ đội Biên phòng; Đài Phát thanh truyền hình; Sở Giáo dục và Đào tạo; Ban Dân tộc; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Sở Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Thành phố Hà Giang; Sở Giao thông vận tải). Một số chủ đầu tư có tỷ lệ giải ngân thấp: Văn phòng Tỉnh ủy; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Ban quản lý cấp thoát nước; Bắc Mê; Sở Thông tin và Truyền thông.