Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm 2020

Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

9 tháng đầu năm 2020

I. Về phát triển kinh tế

1. Lĩnh vực nông lâm nghiệp

a) Về trồng trọt

Duy trì ổn định diện tích cây lương thực, đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ với tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 178.458 ha, tăng 0,5% so với cùng vụ năm trước, bằng 894,3ha với các nhóm cây chủ yếu là cây lương thực có hạt chiếm 52,17% và cây có hạt chứa dầu chiếm 13,41%. Trong đó, đã xây dựng cơ cấu giống lúa phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và thực tế của địa phương, với 60% là giống lúa lai và 40% là giống lúa thuần chất lượng cao. Tổng sản lượng lương thực có hạt thu hoạch năm 2020 ước đạt 408.789 tấn, đạt 97,33% kế hoạch, tăng 0,7% so với năm 2019.

Chương trình cánh đồng mẫu theo phương pháp “5 cùng” trên cây trồng chính là lúa, ngô, lạc được triển khai thực hiện với tổng diện tích thực hiện là 3.305 ha/472 cánh đồng; năng suất các cánh đồng mẫu tăng từ 10% trở lên so với năng suất đại trà. Tập trung chuyển đổi trên 60,52 ha đất trồng lúa không chủ động nước tưới sang trồng các loại cây trồng khác phù hợp với từng vùng, địa phương. Triển khai dồn điền đổi thửa với tổng diện tích thực hiện (lũy kế) được 338,3 ha, kinh phí đã hỗ trợ thực hiện 3.419,6 triệu đồng; triển khai đầu tư gia trại rau, hoa ứng dụng công nghệ mới được 115 ha, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế so với trồng lúa từ 1,5-2 lần, tương đương 60 - 80 triệu đồng/ha. Các mô hình sản xuất điển hình được quan tâm tổ chức thực hiện. Kế hoạch chuyển đổi diện tích chè hữu cơ để chứng nhận và duy trì diện tích cam VietGAP, chè GAP gắn với phân vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến được tiếp tục triển khai có hiệu quả. Tập trung xây dựng và hoàn thiện Đề án phát triển bền vững cây ăn quả có múi giai đoạn 2021-2025. Công tác dự báo, phòng trừ sâu bệnh hại trên cây trồng được thực hiện tốt; kịp thời phát hiện và xử lý sâu bệnh hại trên cây trồng vụ Xuân, vụ Mùa với các loại bệnh như: Đạo ôn, vi khuẩn bệnh đốm sọc, rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ… Tổ chức tổng kết Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2020.

b) Về chăn nuôi

Tập trung phát triển chăn nuôi theo quy mô gia trại, trang trại để thành hàng hóa, sử dụng chủ yếu là các giống địa phương; đồng thời đẩy mạnh sản xuất giống gà, lợn địa phương, khai thác sản xuất trên 7.500 liều tinh cọng rạ cung ứng cho các huyện theo đơn đặt hàng để gia tăng tổng đàn, cải tạo chất lượng, tầm vóc đàn gia súc. Lũy kế toàn tỉnh phát triển được 103 trang trại. Ước tổng đàn trâu 159.744 con, so với cùng kỳ năm trước giảm 6,2% bằng 10.565 con; đàn bò 119.695 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,1% bằng 2.502 con; đàn lợn 574.969 con, tăng 1,52% so với cùng kỳ năm trước; đàn gia cầm 4.929,3 nghìn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,4%, bằng 114 nghìn con. Sản lượng thịt hơi các loại 29.090 tấn, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng chống rét cho gia súc được triển khai quyết liệt, trong vụ Đông năm 2019 – 2020 toàn tỉnh không có trâu bò chết do rét.

c) Về chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP)

Tích cực triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình OCOP năm 2020 với các hoạt động trọng tâm như: Đẩy mạnh thực hiện công tác thông tin, truyền thông, giới thiệu quảng bá các sản phẩm OCOP trên các phương tiện thông tin đại chúng, Cổng thông tin điện tử của tỉnh; duy trì chuyên mục “Mỗi vùng quê một sản phẩm” trên Báo Hà Giang và các chuyên mục “Kinh tế”, “Khuyến nông Hà Giang”, “Xóa đói giảm nghèo”, “Dân tộc và Phát triển”, “Xây dựng Nông thôn mới” trên sóng của Đài Phát thanh & Truyền hình tỉnh với nhiều tin bài, phóng sự giới thiệu các loại sản phẩm đặc trưng, thế mạnh của tỉnh; xây dựng banner tuyên truyền, quảng bá về các sản phẩm OCOP của tỉnh trên các trang thông tin điện tử cấp huyện, xã, gắn link liên kết đến trang chuyên mục Quảng bá các sản phẩm OCOP (https://ocop.hagiang.gov.vn); thành lập Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh; thành lập Tổ công tác liên ngành hướng dẫn, tư vấn, giải quyết các thủ tục đưa sản phẩm tiêu biểu, sản phẩm OCOP vào các chuỗi siêu thị; Phân bổ 9.400 triệu đồng để hỗ trợ tổ chức các Hội nghị tập huấn, tư vấn tuyên truyền, triển khai chu trình OCOP, Hội nghị tổ chức thi đánh giá, phân hạng sản phẩm cấp huyện và hỗ trợ hoạt động ban chỉ đạo cấp huyện; phân bổ 4.464 triệu đồng để hỗ trợ thực hiện các sản phẩm OCOP đánh giá đạt sao lần l. Đến nay, các huyện, thành phố đã lựa chọn đăng ký 266 sản phẩm thực hiện năm 2020 của 12 doanh nghiệp, 97 Hợp tác xã, 03 tổ hợp tác, 27 hộ gia đình, chia theo 06 nhóm sản phẩm. Kết quả đánh giá lần 1 có 49 sản phẩm đạt từ 50 đến dưới 90 điểm.

d) Về lâm nghiệp

Công tác chuẩn bị giống, khảo sát đất để thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2020 đã được tập trung triển khai. Tổng diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 4.429,2 ha. Chăm sóc rừng trồng 1.265,9 ha; hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên triển khai thực hiện 131.924 ha. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được tích cực triển khai thực hiện, đã tuyên truyền được 43.723 lượt người. Tuy nhiên, do thời tiết khô hanh, nắng nóng kéo dài trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ cháy với tổng diện tích bị cháy là 11,68 ha. Công tác tuần tra, phát hiện vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng được tăng cường; đã phát hiện 189 vụ vi phạm Luật lâm nghiệp, so với cùng kỳ giảm 27 vụ, trong đó đã xử lý 181 vụ, tịch thu 95,2 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính 1.951 triệu đồng. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 58%.

2. Lĩnh vực công nghiệp

- Tập trung rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2025, có xét đến 2035; tổ chức kiểm tra, rà soát việc chấp hành pháp luật đối với các dự án thủy điện và triển khai các giải pháp đảm bảo khả năng tiêu thoát lũ của thành phố Hà Giang trong mùa mưa lũ. Tăng cường công tác quản lý về vật liệu nổ công nghiệp trong dịp Tết Nguyên đán năm 2020. Tổ chức thực hiện Đề án khuyến công quốc gia và địa phương năm 2020 và xây dựng kế hoạch khuyến công địa phương giai đoạn 2021-2025. Thực hiện rà soát các cơ sở chế biến nông lâm sản, thực phẩm và tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh năm 2020.

- Về sản xuất công nghiệp, một số doanh nghiệp thủy điện vẫn duy trì hoạt động nhưng chỉ đạt khoảng 70% công suất do thiếu nước; ngành công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản gặp khó khăn về nguyên liệu đầu vào/chưa tìm được đầu ra cho sản phẩm, khó khăn trong tuyển dụng lao động; ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản gặp khó khăn trong giải quyết hàng tồn kho và tìm kiếm đối tác tiêu thụ sản phẩm. Kết quả: Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) ước đạt 4.141 tỷ đồng, giảm 5,15% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 5,15% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,08%; Ngành công nghiệp chế biến giảm 3,98%; Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 6,57%; Ngành sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,31%.

3. Thương mại, dịch vụ và du lịch

a) Về thương mại, dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 9 tháng ước đạt 7.848,9 tỷ đồng, giảm 0,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 6.275,1 tỷ đồng, tăng 3,45%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 1.017,1 tỷ đồng, giảm 11,0%; doanh thu dịch vụ khác đạt 556,6 tỷ đồng, giảm 4,3%.

- Công tác xúc tiến thương mại, quảng bá, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm của tỉnh được đẩy mạnh thông qua các hoạt động trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại các không gian văn hóa, du lịch và thương mại; kết nối quảng bá tiêu thụ sản phẩm tại Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh; chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, hải đảo; các phiên chợ đưa hàng Việt về huyện biên giới… Tập trung thực hiện chuyển đổi mô hình kinh doanh, khai thác và quản lý chợ.

- Công tác kiểm soát hàng hóa được tăng cường, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá hàng hóa đột xuất. Riêng mặt hàng thịt lợn do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi nên giá cả có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ được tăng cường, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm; đã kiểm tra được 877 vụ, giảm 220 vụ so với cùng kỳ; xử lý vi phạm hành chính 661 vụ, giảm 155 vụ so với cùng kỳ; thu nộp ngân sách nhà nước 2.360 triệu đồng; tiêu hủy hàng hóa trị giá 963 triệu đồng.

- Hoạt động xuất nhập khẩu gặp rất nhiều khó khăn khi lực lượng chức năng hai bên cửa khẩu cùng thắt chặt các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 (có thời điểm phía Trung Quốc tạm dừng hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy, siết chặt quản lý, tăng thời gian kiểm tra đối với người, phương tiện vận tải tại vị trí quốc môn); nhiều mặt hàng nhập khẩu có nhà máy sản xuất ở sâu trong nội địa Trung Quốc đã không thể vận chuyển hàng hóa ra cửa khẩu. Từ tháng 2/2020 đến nay, không phát sinh loại hình hàng hóa trao đổi của cư dân biên giới do việc tạm dừng hoạt động xuất nhập cảnh đối với công dân hai nước khu vực biên giới nhằm phòng chống dịch Covid-19. Cửa khẩu phụ Phó Bảng, Săm Pun chưa được mở cửa thông thương trở lại…

Trong điều kiện trên, các ngành, các cấp đã rất tích cực làm việc, trao đổi với phía đối đẳng Trung Quốc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; đàm phán, đối thoại nhằm gia tăng danh mục, số lượng các mặt hàng xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của tỉnh; tổ chức làm việc với Hội thương mại xuất nhập khẩu, nắm bắt, đánh giá hiệu quả hoạt động và giải quyết những khó khăn, vướng mắc của Hội; cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Kết quả: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 9 tháng ước đạt 174,83 triệu USD, giảm 34,4% so với cùng kỳ, đạt 42,64% so với kế hoạch (Trong đó: xuất khẩu đạt 115,1 triệu USD; nhập khẩu đạt 50,8 triệu USD). Tình hình buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới được kiểm soát, không có diễn biến phức tạp và không phát sinh điểm nóng về buôn lậu.

b) Về du lịch

Đã thực hiện điều chỉnh lịch tổ chức các sự kiện, lễ hội thu hút khách du lịch phù hợp với điều kiện phòng, chống dịch bệnh Covid – 19; kịp thời rà soát, nắm bắt thiệt hại của các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh trong ngành du lịch do đại dịch Covid-19; xây dựng kế hoạch phục hồi ngành du lịch, kế hoạch kích cầu du lịch Hà Giang những tháng cuối năm 2020 và năm 2021; thường xuyên cử cán bộ, duy trì đường dây nóng để phục vụ du khách. Công tác xúc tiến quảng bá du lịch được thực hiện linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với bối cảnh đại dịch Covid-19 với các hoạt động như: Tham gia Hội nghị phát động Chương trình kích cầu du lịch nội địa tại thành phố Hồ Chí Minh; Hội nghị kích cầu du lịch 6 tỉnh khu vực Đông – Tây Bắc tại Hà Nội; quảng bá trên các website, tập gấp, tờ rơi...; ban hành Bản tin du lịch số đặc biệt chào xuân năm 2020, Bản tin du lịch số 01, số 02, số 03; tổ chức Lễ đón những vị khách du lịch đầu tiên đến Hà Giang, Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp lữ hành, kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh; tổ chức đoàn khảo sát và Hội nghị kích cầu du lịch nội địa đến với Hà Giang. Tổ chức khánh thành khu du lịch nghỉ dưỡng H’Mông village và PaPiu resort. Triển khai công tác chuẩn bị các điều kiện tổ chức Hội nghị quốc tế chủ đề “Hợp tác vì sự phát triển bền vững các Công viên địa chất toàn cầu UNESCO”… Trong 9 tháng, khách du lịch đến Hà Giang là 435.265 lượt người, giảm 54% so với cùng kỳ, đạt 27% kế hoạch. Trong đó: khách quốc tế là 40.906 lượt; khách nội địa là 394.359 lượt). Doanh thu du lịch đạt 648,5 tỷ đồng, giảm 35% so với cùng kỳ.

4. Giao thông, xây dựng

a) Về giao thông: Tiếp tục xúc tiến, phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông Vận tải xây dựng báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư Dự án đường cao tốc từ Cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy đến cao tốc Nội Bài - Lào Cai để đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025. Thực hiện tốt công tác duy tu, bảo dưỡng thường xuyên và đảm bảo giao thông trên các tuyến đường được giao quản lý đảm bảo cho các phương tiện đi lại êm thuận - an toàn - thông suốt trên các tuyến quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện. Thường xuyên kiểm tra các tuyến đường, công trình cầu, phát quang hai bên lề đường, đặc biệt các tuyến đường vùng cao, vùng sâu. Kịp thời huy động các phương tiện máy móc, thiết bị thi công xử lý các điểm sạt lở, tiềm ẩn tai nạn giao thông. Đối với đường giao thông nông thôn, lũy kế có 37,3% đường trục thôn đã được cứng hoá đạt chuẩn, đạt 97% kế hoạch. Các hoạt động tuần tra, kiểm soát tải trọng xe lưu động, đảm bảo an toàn giao thông tại bến xe khách, các tuyến đường bộ, đường thủy nội địa được tăng cường.

b) Về xây dựng: Công tác thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công - dự toán đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Kịp thời ban hành đơn giá nhân công tạm thời trong quản lý chi phí áp dụng trên địa bàn tỉnh và tiếp tục hoàn thiện các thủ tục, triển khai công tác xây dựng hệ thống đơn giá nhân công, đơn giá khảo sát, giá ca máy và thiết bị thi công, đơn giá xây dựng công trình tỉnh Hà Giang. Tăng cường công tác rà soát, nâng cao năng lực hoạt động cho các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh. Tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng đất và hoạt động san, đào lấp đất trên địa bàn các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Xín Mần và thành phố Hà Giang.

5. Tài chính, tín dụng

a) Về thu, chi ngân sách nhà nước

- Công tác thu ngân sách nhà nước gặp rất nhiều khó khăn, như: Thời tiết khí hậu không thuận lợi, thiếu nguồn nước từ đầu năm cho các nhà máy sản xuất điện, sản lượng điện kê khai thuế giảm nhiều so với cùng kỳ; một số doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề (XDCB, khách sạn, du lịch) vẫn tiếp tục ảnh hưởng do dịch Covid 19, doanh thu kinh doanh thấp, số kê khai thuế, phí giảm; tổng nợ thuế còn khá cao, số nợ thuế ước đến ngày 30/9/2020 trên 711 tỷ đồng, trong đó nợ không có khả năng thu trên 296 tỷ đồng, chiếm 42%; nợ có khả năng thu trên 266 tỷ đồng. Các ngành, các cấp đã có sự nỗ lực rất lớn; thường xuyên nắm bắt, phân tích, dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến thu NSNN. Chủ động tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tập trung rà soát, đối chiếu, đôn đốc thực hiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và đơn giản hóa, công khai, minh bạch các thủ tục về thuế, hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và hoạt động thông quan hàng hóa...

Kết quả 9 tháng: Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 12.208 tỷ đồng (NSTW hưởng 319 tỷ đồng, NSĐP hưởng 11.889 tỷ đồng), trong đó: Thu NSNN trên địa bàn đạt 1.541 tỷ đồng, bằng 81,3% kế hoạch TW giao và 61,6% kế hoạch tỉnh giao, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Có 5/12 đơn vị có số thu trên mức bình quân chung so với dự toán và tăng so với cùng kỳ năm 2019. Thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 155 tỷ đồng, bằng 88,1% dự toán TW giao và bằng 57,4% dự toán tỉnh giao.  

 - Dự toán chi NSĐP được quản lý, sử dụng chặt chẽ, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ và định mức chi; tiết kiệm triệt để các khoản chi ngay từ khi phân bổ và trong quá trình thực hiện. Đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức và các chính sách an sinh xã hội đặc biệt các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và người có công. Chủ động linh hoạt cân đối nguồn kinh phí đảm bảo nhiệm vụ phát sinh so với dự toán đầu năm như: tổ chức Đại hội Đảng các cấp; kịp thời cấp kinh phí để các huyện, thành phố chi trả chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn theo Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ, đảm bảo hỗ trợ ổn định đời sống của người dân do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 số tiền 384,5 tỷ đồng.

Kết quả ước 9 tháng: Tổng chi NSĐP đạt 9.500 tỷ đồng, bằng 59% dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển 2.001 tỷ đồng = 46% dự toán; chi thường xuyên 6.708 tỷ đồng = 64% dự toán; chi dự phòng ngân sách 129 tỷ đồng, bằng 66,9% dự toán; chi từ nguồn viện trợ, huy động, đóng góp 11 tỷ đồng bằng số thu.

b) Về hoạt động tín dụng: Tổ chức Hội nghị kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp nhằm hỗ trợ khách hàng khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh. Tập trung thực hiện tăng trưởng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng; tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng ước đến 30/9/2020 đạt 23.890 tỷ đồng, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 12.797 tỷ đồng, đạt 53,5% kế hoạch, tăng 12,8% so với cùng kỳ, tương đương 1.452 tỷ đồng. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã chú trọng đưa vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn của người dân. Tổng dư nợ tín dụng đến 30/9/2020 ước đạt 22.592 tỷ đồng, tăng 8,0% so với cùng kỳ, tương đương tăng 1.672 tỷ đồng, chủ yếu là cho vay trong ngành sản xuất, phân phối điện, nước (chiếm 27,6%), ngành thương mại và dịch vụ (chiếm 24,6%); ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (chiếm 17,5%); doanh số cho vay 9 tháng ước đạt 2.416 tỷ đồng. Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn, ước đến hết tháng 9 nợ xấu chiếm 0,28%/ tổng đầu tư tín dụng.

6. Về huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực đầu tư

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 9 tháng ước đạt 7.820 tỷ đồng, giảm 2,72% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước 2.447,2 tỷ đồng, giảm 0,95%; vốn ngoài nhà nước 5.373,4 tỷ đồng, giảm 3,4%.

- Về đầu tư công: Đã phê duyệt chủ trương đầu tư khởi công mới được 59 dự án; quyết toán được 86 dự án với giá trị quyết toán được duyệt là 958,9 tỷ đồng, giảm 7,5 tỷ đồng so với giá trị quyết toán A-B và giảm 29,6 tỷ đồng so với tổng mức đầu tư. Tổ chức chấn chỉnh công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Tập trung chỉ đạo quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2020 với các hoạt động như: Phân công Lãnh đạo UBND các cấp trực tiếp chỉ đạo, theo dõi công tác giải ngân, thanh toán kế hoạch vốn đầu tư công năm 2020; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu; rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục thanh toán vốn đầu tư; thực hiện chế độ báo cáo giải ngân 10 ngày/lần; tổ chức ký cam kết giải ngân đến từng chủ đầu tư; họp giao ban định kỳ. Tỷ lệ giải ngân các nguồn vốn đạt 50% kế hoạch. Trong đó: Nguồn vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương đạt 81,4%; các chương trình mục tiêu NSTW giải ngân đạt 78,4%; các Chương trình mục tiêu quốc gia giải ngân đạt 78,8%; Hỗ trợ đồng bào dân tộc miền núi Quyết định 2086/QĐ-TTg và 2085/QĐ-TTg đạt 39,1%; các nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư đạt 54,4%; hỗ trợ đối ứng các dự án ODA đạt 28,1%; vốn ODA đạt 16,7%; các nguồn vốn năm 2019 kéo dài sang 2020 đạt 35,9%. Theo chủ đầu tư, có 08 chủ đầu tư đạt trên 70%; 12 chủ đầu tư đạt từ 50% đến dưới 70%; 06 chủ đầu tư đạt từ 30% đến dưới 50%; 08 chủ đầu tư đạt dưới 30%. Các công trình cấp tỉnh chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 đã hoàn thiện trên 80% khối lượng.

- Về thu hút đầu tư ngoài ngân sách: Tích cực chuẩn bị các tài liệu về thu hút đầu tư, cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư, clip quảng bá tiềm năng thế mạnh của tỉnh tại các hội nghị như: Gặp gỡ các tổ chức Hàn Quốc tại Hà Nội; Hội Nghị kích cầu du lịch nội địa đến với Hà Giang tại thành phố Hồ Chí Minh; Hội nghị kích cầu du lịch 06 tỉnh khu vực Đông – Tây Bắc tại Hà Nội và Hội nghị kích cầu du lịch nội địa đến với Hà Giang tại thành phố Hà Giang; đồng thời thông qua Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin về các dự án đầu tư trong lĩnh vực phát triển nông lâm nghiệp, các cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư của tỉnh cho Hiệp hội Doanh nhân tỉnh Vân Nam- Trung Quốc và cung cấp các thông tin về thu hút đầu tư của để phục vụ việc xây dựng hồ sơ địa phương.

Tập trung giải quyết đề nghị đầu tư và hỗ trợ 19 nhà đầu tư khảo sát dự án tại tỉnh; giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị, để khởi công các dự án thu hút đầu tư trọng điểm (Gồm: Dự án Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái núi Mỏ Neo, dự án Trang trại chăn nuôi bò sữa công nghệ cao, dự án Khách sạn Yên Biên Luxury). Trong 9 tháng, đã thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 08 dự án với vốn đầu tư hơn 873 tỷ đồng, cấp điều chỉnh cho 25 dự án. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư, đã thông báo chấm dứt hoạt động 06 dự án, thu hồi 04 dự án hoạt động không hiệu quả.

7. Về phát triển các thành phần kinh tế, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo

a) Về phát triển các thành phần kinh tế

Tập trung thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, rút ngắn tối đa thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp (trong vòng 01 ngày làm việc), hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký kinh doanh qua mạng với tỷ lệ đạt 49,6%. Triển khai thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ; tích cực nắm bắt, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh thông qua Hội nghị Gặp mặt doanh nghiệp năm 2020, các đường dây nóng của các sở, ngành... Kịp thời rà soát, triển khai các gói hỗ trợ của Trung ương đến các doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Tập trung phân tích, đánh giá kết quả thực hiện chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân dẫn đến việc giảm thứ hạng so với năm 2018 và quyết tâm thực hiện kế hoạch cải thiện, nâng cao chỉ số cho năm 2020.

Trong 9 tháng, có 103 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 21% so với cùng kỳ năm trước. Số vốn đăng ký 675,1 tỷ đồng; 58 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 2.124 doanh nghiệp và 763 đơn vị trực thuộc; có 08 hợp tác xã thành lập mới, nâng số hợp tác xã trên địa bàn tỉnh lên 722 hợp tác xã. Thực hiện quyết toán chi phí thoái vốn nhà nước tại 03 Công ty cổ phần (Gồm: Môi trường đô thị, Đường bộ I và Đường bộ II); giao chỉ tiêu kế hoạch đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp loại đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước năm 2020.

b) Về hoạt động khởi nghiệp

Tổ chức lựa chọn và ươm tạo 11 dự án, ý tưởng khởi nghiệp tại Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp tỉnh; tổ chức thành công cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp trong thanh niên năm 2020, lựa chọn 06 dự án và ký tài trợ 100 triệu đồng/dự án. Hỗ trợ 01 doanh nghiệp được ươm tạo tại Vườn ươm về chính sách liên kết phát triển vùng nguyên liệu Nghệ đỏ xoắn tằm. Tổ chức triển khai các nguồn vốn vay và hỗ trợ từ Quỹ Phát triển HTX, Quỹ Hỗ trợ nông dân và Quỹ phát triển Hội phụ nữ tỉnh đến các khởi nghiệp viên trên dịa bàn toàn tỉnh. Duy trì thường xuyên các hoạt động của Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua như: chương trình Cà phê sách khởi nghiệp, xây dựng cổng thông tin điện tử khởi nghiệp của tỉnh (www.Startuphagiang.vn); hỗ trợ khởi nghiệp viên về thủ tục thành lập doanh nghiệp, hỗ trợ kết nối kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm; triển khai các khoá học online cho các khởi nghiệp viên trên địa bàn tỉnh trong thời gian dịch Covid -19 diễn ra; xây dựng Nhóm cộng đồng khởi nghiệp tỉnh trên mạng xã hội Facebook thu hút gần 500 thành viên tham gia; tập huấn kỹ năng quản trị kinh doanh online tại Hội thảo "Kết nối nguồn lực hỗ trợ doanh nhân - doanh nghiệp khởi nghiệp" và lớp khởi nghiệp kinh doanh ít vốn.

8. Công tác quy hoạch; phát triển khu, cụm công nghiệp; xây dựng nông thôn mới

a) Công tác quy hoạch

- Về lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030: Đã thường xuyên trao đổi với Vụ quản lý chuyên ngành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các tỉnh bạn để cập nhật tiến độ, trao đổi thông tin, cách thức, kinh nghiệm thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến lập quy hoạch tỉnh; chủ động tiếp cận, tham khảo tài liệu của các Bộ chuyên ngành, tỉnh, thành phố đã được phê duyệt Nhiệm vụ lập quy hoạch để điều chỉnh phù hợp với thực tế của tỉnh Hà Giang; tích cực chuẩn bị hồ sơ trình phê duyệt Nhiệm vụ lập quy hoạch tỉnh. Đến tháng 8/2020, Tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Nhiệm vụ lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hiện nay, đang thực hiện công tác xây dựng, thẩm định dự toán kinh phí lập quy hoạch tỉnh làm cơ sở để tổ chức đấu thầu, lựa chọn đơn vị tư vấn lập quy hoạch tỉnh.   

- Thực hiện điều chỉnh và hoàn thiện công tác phê duyệt đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thị trấn Tam Sơn, thị trấn Mèo Vạc, thị trấn Yên Minh thuộc Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Hoàn thiện hồ sơ, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đồ án Quy hoạch chung đô thị Hà Giang, tỉnh Hà Giang đến năm 2023. Hoàn thiện Quy hoạch chi tiết Khu trung tâm cửa khẩu Thanh Thủy và Quy hoạch chi tiết xây dựng cửa khẩu Săm Pun (Việt Nam) - Điền Bồng (Trung Quốc) giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn 2030.

b) Phát triển các khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp

- Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy: Hiện có 30 dự án đang hoạt động; 07 dự án đang triển khai thực hiện; 03 dự án chưa triển khai. Kịp thời tổ chức hội nghị gặp mặt doanh nghiệp trao đổi, tháo gỡ khó khăn. Duy trì tốt chế độ gặp mặt, trao đổi định kỳ với Ban Quản lý khu hợp tác kinh tế biên giới Malypho, thực hiện quản lý, điều tiết lái xe vận chuyển hàng hóa hàng xuất, nhập khẩu trong thời gian phòng, chống covid-19... Công tác quản lý hạ tầng khu kinh tế, vệ sinh môi trường, quản lý và thu các loại phí sử dụng kết cấu hạ tầng trong khu cơ bản đảm bảo.

- Khu công nghiệp Bình Vàng: Tổng số dự án đầu tư tại khu là 19 dự án. Trong đó: 09 dự án đang hoạt động; 02 dự án đang đầu tư xây dựng, 04 dự án ngừng đầu tư và ngừng hoạt động, 04 dự án đang chuẩn bị đầu tư.

- Các cụm công nghiệp: Đã thành lập và quy hoạch chi tiết 06 cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trong đó 02 cụm công nghiệp đang hoạt động (Cụm công nghiệp Nam Quang và Minh Sơn 2) và 01 cụm công nghiệp đang thực hiện san ủi mặt bằng và đầu tư hạ tầng kỹ thuật (Cụm công nghiệp Tân Bắc).

c) Chương trình xây dựng nông thôn mới

Chủ động thực hiện các giải pháp tăng tiêu chí nông thôn mới, thực hiện 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tổ chức thực hiện phúc tra lại các xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; ban hành quyết định phân bổ vốn hỗ trợ XDNTM và phân công các thành viên Ban chỉ đạo tỉnh phụ trách tiêu chí NTM theo từng nhóm xã. Đồng thời, phấn đấu công nhận thêm 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới tại huyện Mèo Vạc và Đồng Văn trong năm 2020. Các ngành đã tập trung triển khai các nhiệm vụ được phân công; đẩy mạnh triển khai thực hiện các Đề án, chương trình sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn và công tác tuyên truyền về XDNT; đổi mới hình thức và nội dung giao ban XDNTM theo hướng lồng ghép giao ban với các chương trình trọng tâm thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; tổ chức đánh giá thực trạng phát triển kinh tế vườn hộ và triển khai xây dựng Đề án về cải tạo vườn tạp, xây dựng vườn mẫu trên địa bàn tỉnh năm 2020-2025. Tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra tại Báo cáo số 882-BC/TU ngày 16/6/2020 của Tỉnh ủy về ý kiến nhân dân về kết quả xây dựng nông thôn mới tại các xã đạt chuẩn nông thôn mới. Hoàn thành và tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Hà Giang hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM năm 2019.

Kết quả: Đã thực hiện hỗ trợ xi măng được 69.457 tấn với tổng kinh phí là 68.449 triệu đồng; làm được 284 km đường bê tông các loại; xây dựng 3 công trình vệ sinh được 4.929 công trình; 1.728 bể nước; nhân dân hiến đất 239.883 m2; đóng góp 118.274 ngày công lao động; mở mới đường đất, đá 59 km; sửa chữa, nâng cấp, mở rộng đường 290 km; xây dựng được 145 mô hình sản xuất; thành lập 356 Tổ  hợp tác, nhóm sở thích; huy động được 3.669 triệu đồng; quyên góp, hỗ trợ 4.325 triệu đồng xây dựng NTM.

Số tiêu chí tăng là 45/197 tiêu chí, đạt 23% theo kế hoạch đề ra, dự kiến đến hết năm 2020 đạt 197/197 tiêu chí, đạt 100% kế hoạch. Số xã đạt từ 15-18 tiêu chí là 7 xã; số xã đạt từ 10-14 tiêu chí là 104 xã; số xã đạt dưới 9 tiêu chí là 26 xã.  Các tiêu chí đạt tỷ lệ cao trên 90% gồm: Tiêu chí số 1- Quy hoạch; Tiêu chí số 12 - Lao động có việc làm thường xuyên; Tiêu chí số 13 - Tổ chức sản xuất; Tiêu chí số 15 - Y tế; Tiêu chí số 18 - Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; Tiêu chí số 19 - Quốc phòng và an ninh.

Về thực hiện tiêu chí NTM của 07 xã phấn đấu đạt chuẩn năm 2020, đến nay, có 02 xã đạt 16/19 tiêu chí (xã Phong Quang, huyện Vị Xuyên; xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì); có 03 xã đạt 15/19 tiêu chí (xã Hương Sơn, huyện Quang Bình; xã Tiên Kiều, huyện Bắc Quang; xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn); 02 xã đạt 14/19 tiêu chí (xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc và xã Bản Ngò, huyện Xín Mần). Tổng số tiêu chí đã đạt của 07 xã là 103/133 tiêu chí; số tiêu chí chưa đạt là 30 tiêu chí. Dự kiến đến hết tháng 11/2020 sẽ hoàn thành 100% tiêu chí theo kế hoạch đề ra.

9. Về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai

a) Về tài nguyên, môi trường

Tiếp tục thực hiện tổng kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn tỉnh. Tổ chức đo đạc lập bản đồ địa chính và lập hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 15 xã thuộc các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Quang và Hoàng Su Phì. Xác định ranh giới, cắm mốc giới đất có nguồn gốc từ nông lâm trường tại 08 ban quản lý. Thực hiện thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất với 30 hồ sơ, dự án với tổng diện tích 3.573,24 ha; đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án.

Tổ chức cấp 06 giấy phép khai thác khoáng sản, phê duyệt 06 đề án đóng cửa mỏ khoáng sản, phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoảng sản cho 22 điểm mỏ. Tiến hành lập đề cương nhiệm vụ về tài nguyên nước năm 2020. Tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Nước thế giới 22/3, ngày Khí tượng thế giới 23/3, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới và Ngày môi trường thế giới. Tổ chức xây dựng Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 – 2020; tiếp tục thực hiện mô hình giảm phát thải khí nhà kính và phân loại rác tại nguồn tại huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường; đã kiểm tra 15 doanh nghiệp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường; kiểm tra tình hình thực hiện các quy định pháp luật về tài nguyên nước đối với công trình thủy điện Thanh Thủy 2; kiểm tra việc quản lý sử dụng đất đối với 21 tổ chức, trong đó đã hoàn thành kiểm tra 05 tổ chức; thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước đối với các tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện trên địa bàn các huyện Quang Bình, Hoàng Su Phì, Xín Mần.

b) Về công tác ứng phó biến đổi khí hậu; phòng, chống, khắc phục hậu quả  thiên tai

Công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống giảm nhẹ thiên tai được các cấp, các ngành quan tâm chú trọng, thường xuyên theo dõi sát sao diễn biến thời tiết để có phương án phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại. Trong 9 tháng, tình hình thiên tai diễn biễn rất phức tạ và khó lường.

10. Về khoa học - công nghệ

Tổ chức thực hiện quản lý 48 đề tài, dự án khoa học cấp tỉnh và 01 dự án cấp Bộ. Công tác thẩm định, xét chọn các nhiệm vụ khoa học công nghệ được thực hiện tốt; đã nghiệm thu 05 đề tài cấp tỉnh, cấp cơ sở; thẩm định 22 đề tài, dự án cấp tỉnh; thẩm định, cấp 18 giấy phép tiến hành công việc bức xạ. Tổ chức triển khai dự án Kawatech – bơm nước không dùng điện tại huyện Mèo Vạc.

Đẩy mạnh hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm đặc sản của tỉnh; tổ chức tuyển chọn, phê duyệt danh mục các sản phẩm đặc sản của tỉnh với 01 nhãn hiệu chứng nhận, 03 nhãn hiệu tập thể và 05 nhãn hiệu độc quyền; triển khai in tem thông minh truy suất nguồn gốc cho các sản phẩm Cam, Chè Shan Tuyết, Mật ong bạc hà cho các doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia Tuần lễ Cam tại Hà Nội và chuỗi siêu thị Vinmart và chuẩn bị cho sự kiện xúc tiến tiêu thụ sản phẩm niên vụ 2020-2021. Duy trì, cập nhật thường xuyên thông tin trên Sàn giao dịch và truy xuất nguồn gốc sản phẩm tại địa chỉ https://hagiangtrace.com/. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về khoa học, công nghệ được triển khai kịp thời, đã tổ chức thanh tra xăng dầu tại 18 cửa hàng trên địa bàn các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Bắc Mê và thành phố Hà Giang và thanh tra 10 cơ sở kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường.

II. Lĩnh vực văn hoá - xã hội

1. Công tác giáo dục và đào tạo

Đã thực hiện nghiêm các chỉ đạo về cho học sinh, sinh viên nghỉ học, điều chỉnh khung thời gian và tổ chức dạy, học năm học 2019-2020 để phòng, chống đại dịch Covid-19. Hoàn thành tốt chương trình năm học 2019-2020. Tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh lớp 9 và thi nghề phổ thông. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020 trên địa bàn tỉnh được tổ chức đảm bảo an toàn, đúng quy chế với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 88,07%. Hoàn thành công tác tuyển sinh vào các lớp đầu cấp năm học 2020-2021; tuyển sinh vào các trường Nội trú Trung ương, dự bị đại học năm 2020. Tổ chức tổng kết năm học 2019-2020; triển khai nhiệm vụ năm học 2020-2021 và khai giảng năm học mới bám sát hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

 Chuẩn bị tốt các điều kiện để triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, như: Tổ chức Hội nghị trực tuyến về công tác chuẩn bị đội ngũ giáo viên; tập huấn cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn cấp tiểu học; tập huấn sử dụng sách giáo khoa lớp 1 cho cán bộ quản lý, giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 năm học 2020-2021 trên địa bàn toàn tỉnh. Tổ chức tập huấn tăng cường tiếng Việt cho giáo viên cốt cán. Tiếp tục thực hiện công tác phổ cập giáo dục xóa mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn tỉnh.

Tổ chức Lễ công bố thành lập và ra mắt Quỹ Khuyến học – Khuyến tài tỉnh với mục đích hỗ trợ cho học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vượt khó vươn lên trong học tập. Quỹ được hình thành từ nguồn vận động quyên góp, tài trợ của các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước. Đến nay, tổng số kinh phí đăng ký ủng hộ và tài trợ cho Quỹ là 51.748 triệu đồng. Số kinh phí đã tiếp nhận là 20.348 triệu đồng; đã gửi tiết kiệm 12 tháng số tiền 19.900 triệu đồng.

2. Công tác y tế

Đã tập trung huy động mọi lực lượng triển khai và thực hiện tốt công tác phòng, chống đại dịch Covid-19. Trong 9 tháng, các cơ sở y tế đã khám cho trên 724 nghìn lượt người, triển khai hội chẩn khám chữa bệnh từ xa với các bệnh viện tuyến Trung ương và giữa các bệnh viện trên địa bàn tỉnh bước đầu có hiệu quả. Các chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số được đảm bảo. Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi, đã tiêm chủng đầy đủ cho 12.976 trẻ (đạt 80,4% kế hoạch năm). Mô hình trạm y tế xã hoạt động theo nguyên lý y học gia đình, tiến tới quản lý sức khỏe người dân theo hộ gia đình được triển khai tại 66 xã điểm và tiếp tục mở rộng quy mô. Một số bệnh viện tuyến huyện tích cực ứng dụng và triển khai có hiệu quả các dịch vụ kỹ thuật cao, nhờ đó bệnh nhân không phải chuyển tuyến trên, tiết kiệm thời gian và giảm gánh nặng kinh tế cho người dân. Công tác truyền thông phòng chống ngộ độc thực phẩm được tăng cường; tổ chức kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm tại 5.825 cơ sở, trong đó có 4.690 cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh (tỷ lệ 80,5%); trong 9 tháng đã xảy ra 06 vụ ngộ độc với 38 ca mắc và 9 ca tử vong.

3. Hoạt động văn hóa, thể thao

Công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa được quan tâm, chú trọng; hoàn thành cắm bổ sung mốc giới 3 di tích tại huyện Đồng Văn và Mèo Vạc. Hoàn thiện 02 hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể đề nghị Bộ Văn hóa, TT&DL đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Tổ chức đón nhận bằng xếp hạng quốc gia hang Khâu Đôn và hang Nặm Tan, xã Đức Xuân. Hoàn thiện 03 danh thắng trình Bộ VHTTDL xếp hạng. Tổ chức Lễ tiếp nhận hiện vật do công dân hiến tặng; sưu tầm được 120 hiện vật (vượt 20% kế hoạch năm). tổ chức khảo sát xây dựng tuyến khám phá thứ 4 trên 3 huyện vùng CVĐC. Tổ chức kiểm tra hiện trạng điểm di sản hóa thạch Tay cuộn Ma Lé; kiểm tra việc khai thác 45 điểm di sản.Tổ chức các lớp truyền dạy và bảo tồn văn hóa phi vật thể Tạm dừng một số lễ hội tránh tập trung đông người để bảo đảm điều kiện phòng chống dịch Covid-19. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết tổ chức Lễ hội Hoa tam giác mạch tỉnh Hà Giang năm 2020.

Tập trung các hoạt động tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp, phong trào xây dựng nông thôn mới, kỷ niệm các ngày lễ lớn, đặc biệt là các biện pháp phòng chống đại dịch Covid-19. triển khai trưng bày chuyên đề “Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang - Các kỳ Đại hội” phục vụ chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025. Xây dựng các kế hoạch triển khai phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và gia đình năm 2020, nâng cao chất lượng gia đình và làng văn hóa (dự kiến, hết năm 2020, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 70%, tỷ lệ làng văn hóa đạt 62,7%).

Phong trào tập luyện thể dục thể thao trong các tầng lớp được duy trì thường xuyên. Triển khai kế hoạch tuyên truyền bơi phòng chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2020; ban hành Kế hoạch tổ chức tháng hoạt động TDTT cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân giai đoạn 2020- 2030. Tổ chức thành công giải thể thao dân tộc và giải Bóng chuyền hơi tỉnh Hà Giang, tổ chức thành công 06 giải thể thao trong tỉnh. Đưa đoàn cầu thủ tham gia giải Bóng đá Nhi đồng toàn quốc vòng I Cup Kun siêu phàm tại Phú Thọ, kết quả đạt giải nhất vòng bảng, chuẩn bị thi đấu vòng chung kết tại Phú Yên. Tham gia 08 giải thể thao thành tích cao do Trung ương và khu vực tổ chức, đạt tổng số 24 huy chương (trong đó 08 huy chương Bạc, 14 huy chương Đồng, 02 giải Ba).

4. Hoạt động thông tin – truyền thông

Các hoạt động thông tin, truyền thông, báo chí, phát thanh, truyền hình phong phú, có chất lượng. Thông tin liên lạc được đảm bảo thông suốt phục vụ tốt công tác chỉ đạo điều hành của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhu cầu sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp và người dân. Tăng cường truyền thông về tình hình và các giải pháp ứng phó với dịch bệnh; phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên các nền tảng công nghệ số như mạng xã hội Facebook, Zalo, các trang thông tin điện tử các cơ quan nhà nước; Đài Phát thanh - Truyền hình, báo Hà Giang. Tích cực tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện cài đặt và sử dụng ứng dụng NCOVI và Bluezone. Tính đến ngày 13/9/2020, tỷ lệ cài đặt Bluezone/tổng số dân đạt 9,7%; tỷ lệ cài đặt/tổng số Smartphone đạt 21,29%. Thiết lập các đường truyền Internet, Wifi tại 17 bệnh viện tỉnh, huyện, khu cách ly tập trung phòng, chống dịch Covid-19. Triển khai phần mềm quản lý khám, chữa bệnh tại 16/16 bệnh viện; phần mềm y tế xã/phường liên thông đối với 195/195 trạm y tế cấp xã, thực hiện liên thông dữ liệu khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế đối với các cơ quan bảo hiểm. Hoàn thành việc lắp đặt thiết bị Đài truyền thanh cơ sở internet cho 11