Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022

 

Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022

1. Một số kết quả nổi bật

1.1 Kết quả thực hiện 36 chỉ tiêu kế hoạch: Có 29/36 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch (Tỷ lệ 80,1%); 07/36 chỉ tiêu không đạt kế hoạch (Tỷ lệ 19,4%). Cụ thể:

- Về chỉ tiêu phát triển kinh tế: Có 10/12 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; 02/12 chỉ tiêu không đạt kế hoạch.

- Về chỉ tiêu xã hội: Có 14/19 chỉ tiêu đạt kế hoạch, 05/19 chỉ tiêu không đạt kế hoạch.

- Về chỉ tiêu môi trường: 05/05 chỉ tiêu đạt kế hoạch.

1.2. Chương trình MTQG được triển khai tích cực, đã hoàn thành 12 Nghị quyết, 08 Quyết định và nhiều văn bản triển khai thực hiện thuộc thẩm quyền của HĐND và UBND tỉnh; Hoàn thành việc phân bổ và giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển, kinh phí sự nghiệp thực hiện 03 Chương trình giai đoạn 2021-2025 và năm 2022 cho các cơ quan, đơn vị, huyện, thành phố. Hướng dẫn các huyện, thành phố xây dựng danh mục đầu tư; khẩn trương hoàn thiện các thủ tục để triển khai các dự án đã được UBND tỉnh cho chủ trương thực hiện năm 2022.

1.3. Các Dự án thuộc Chương trình phục hồi, kinh tế xã hội (gồm: Đường cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang giai đoạn 1, đoạn qua tỉnh Hà Giang và các dự án đầu tư nâng cao năng lực y tế dự phòng, y tế cơ sở) đã được HĐND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư; được UBND tỉnh phê duyệt dự án, hiện đang hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư, tổ chức đầu thầu lựa chọn nhà thầu để khởi công xây dựng.

1.4. Các nhiệm vụ Quy hoạch tỉnh được tập trung triển khai và hoàn thiện đảm bảo tiến độ đề ra. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tổng hợp ý kiến của các thành viên Hội đồng thẩm định Quốc gia để tổ chức Hội nghị thẩm định, dự kiến trong tháng 12/2022.

1.5. Công tác chuyển đổi số được triển khai tích cực đồng bộ trên cả 03 phương diện: Chính quyền số, Kinh tế số và Xã hội số. Các xã, phường, thị trấn đã thành lập Ban chỉ đạo chuyển đổi số; 2.071 Tổ công nghệ số cộng đồng với 12.131 hội viên tham gia. Triển khai thực hiện Đề án 06, trong đó đã thành lập 2.276 Tổ công tác với 12.329 thành viên tham gia; Tổ chức thu nhận và xử lý 84.306 hồ sơ CCCD; 106.216 hồ sơ định danh điện tử; có 04 doanh nghiệp chuyển đổi số mô hình quản trị.

1.6. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP giá so sánh) năm 2022 đạt 16.286 tỷ đồng, tăng 7,8% so với năm 2021. Trong đó: (i) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,04%, đóng góp 1,52 điểm phần trăm; (ii) Khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng 15,25%, đóng góp 3,61 điểm phần trăm; (iii). Khu vực dịch vụ tăng 5,97%, đóng góp 2,42 điểm phần trăm; (iv) Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,0%, đóng góp 0,23 điểm phần trăm.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP giá hiện hành) năm 2022 đạt 30.612 tỷ đồng. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 8.870 tỷ đồng, chiếm 30,58%; (ii) Khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản đạt 7.859 tỷ đồng, chiếm 27,09%; (iii) Khu vực dịch vụ đạt 12.279 tỷ đồng, chiếm 42,33%.

1.7. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 13.790 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm 2021, đạt 102,1% KH. Trong đó: Vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước thực hiện 5.518 tỷ đồng, tăng 30,1% so với cùng kỳ; Vốn ngoài Nhà nước 8.223 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 48,5 tỷ đồng.

1.8. Đề án Cải tạo vườn tạp và phát triển bền vững cây Cam sành được các cấp, các ngành và nhân dân quan tâm thực hiện, dần chứng minh được hiệu quả trong cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân. Đã cải tạo 2.325 vườn; Hiện có 1.935 vườn đã cho hiệu quả kinh tế với thu nhập bình quân 18,8 triệu đồng/hộ/năm (cao gấp 2-3 lần so với trước thời điểm chưa thực hiện cải tạo vườn tạp).

1.9. Sản xuất công nghiệp phục hồi nhanh, tăng trưởng khá; Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 16,8% (Vượt kế hoạch đề ra).

1.10. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 14.088 tỷ đồng, tăng 18,3% so với năm 2021 (Vượt kế hoạch đề ra).

1.11. Du lịch phục hồi và tăng trưởng mạnh, lượng khách du lịch đạt 2,2 triệu lượt người, tăng 142,3% so với năm 2021 (Vượt kế hoạch đề ra).

1.12. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.565 tỷ đồng, giảm 6,1% so với năm 2021, đạt 132,7% dự toán TW giao và 91,6% KH tỉnh giao.

1.13. Tổng dư nợ tín dụng 28.241 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cuối năm 2021 (Vượt kế hoạch đề ra).

1.14. Các chỉ số về cải cách hành chính của tỉnh năm 2021 tăng so với năm 2020; trong đó: chỉ số PAPI tăng 09 bậc; chỉ số SIPAS tăng 07 bậc; chỉ số PAR Index tăng 05 bậc; chỉ số PCI tăng 02 bậc.

1.15. Tiếp tục triển khai Chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho cựu chiến binh nghèo, gia đình chính sách, hộ nghèo khó khăn về nhà ở. Toàn tỉnh đã triển khai xây dựng 6.700 nhà ở với tổng kinh phí hỗ trợ 401.294 triệu đồng và trên 400.000 ngày công, tổng nguồn vốn đầu tư cho chương trình trên 1.200 tỷ. Giải quyết việc làm cho 36.710 lao động, đạt 213,4% kế hoạch (tăng 110% so với năm 2021).

1.16. An sinh xã hội được đảm bảo, giải quyết kịp thời các chế độ chính sách, số hộ nghèo giảm 8.784 hộ, an ninh quốc phòng được giữ vững.

1.17. Công tác đối ngoại được duy trì, thúc đẩy thông qua tổ chức gặp gỡ đầu Xuân với tỉnh Quảng Tây.

2. Triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội và các chương trình, đề án của tỉnh

2.1. Triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

Công tác triển khai được thực hiện quyết liệt, khẩn trương. Thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia của tỉnh giai đoạn 2021-2025; kiện toàn Ban Chỉ đạo cấp huyện và Ban quản lý cấp xã. Tập trung triển khai Nghị định số 27/2022/QĐ-TTg ngày 19/4/2022 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, trong đó đã xây dựng và trình HĐND tỉnh 12 Nghị quyết; ban hành 08 Quyết định, và 15 văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh. Thường xuyên tổ chức các cuộc họp với các ngành, các cấp để kịp thời nắm bắt tiến độ và chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm.

Hoàn thành việc phân bổ và giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển, kinh phí sự nghiệp thực hiện 03 Chương trình giai đoạn 2021-2025 và năm 2022 cho các cơ quan, đơn vị, huyện, thành phố. Hướng dẫn, thẩm định danh mục đầu tư của 03 Chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025 cho các huyện, thành phố. Ban hành và triển khai các Kế hoạch chuyên đề về thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2022 và giai đoạn 2021-2025.

Về kết quả xây dựng nông thôn mới, công nhận xã Phương Thiện, thành phố Hà Giang đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2021. Ban hành, triển khai thực hiện các Quyết định quy định Bộ tiêu chí xã nông thôn mới, xã nông thông mới nâng cao, kiểu mẫu và Bộ tiêu chí Thôn nông thôn mới tỉnh Hà Giang giai đoạn 2021-2025. Trong năm, thực hiện tăng 26/34 tiêu chí NTM (đạt 76,5% KH) và hoàn thành đạt chuẩn thôn NTM 22/60 thôn (đạt 36,7% KH), thực hiện duy trì, nâng cao chất lượng tại 47 xã đã được công nhận NTM (đạt 100% KH). Đã cung ứng xi măng cho 11/11 huyện, thành phố tổng cộng 35.902 tấn (đạt 100% KH); tổ chức làm được 369 km đường bê tông nông thôn (đạt 100% KH); thực hiện tốt phong trào chung sức xây dựng nông thôn mới.

2.2. Thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Ban hành và tích cực triển khai Kế hoạch số 75/KH-UBND ngày 14/3/2022 về thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh; Các dự án được bố trí từ nguồn vốn thuộc chính sách tài khóa của Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội, gồm:

(i) Dự án Đường cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1), đoạn qua tỉnh Hà Giang: Được Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư với tổng mức đầu tư 3.198 tỷ đồng; UBND tỉnh đã phê duyệt dự án tại Quyết định số 2009/QĐ-UBND ngày 09/11/2022, hiện đang hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư và các điều kiện tổ chức khởi công vào đầu Quý I/2023, cụ thể: Hoàn thành công tác đấu thầu lựa chọn nhà thầu, hoàn thiện Báo cáo đánh giá tác động môi trường, trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt; hoàn thành cắm cọc, xác định phạm vi giải phóng mặt bằng dự án.

(ii) Dự án đầu tư nâng cao năng lực y tế dự phòng, y tế cơ sở: Được Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư, gồm 03 dự án: Đầu tư Xây dựng mới Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Hà Giang (17 tỷ đồng); Đầu tư Xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp 08 bệnh viện đa khoa huyện, đa khoa khu vực huyện, tỉnh Hà Giang (93 tỷ đồng); Đầu tư xây dựng mới 10 trạm y tế tuyến xã, tỉnh Hà Giang (77 tỷ đồng). Cụ thể: Dự án Đầu tư xây dựng mới Trung tâm CDC tỉnh, đã thẩm định và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi; Dự án 08 Bệnh viện đa khoa huyện, đa khoa khu vực và 10 trạm y tế tuyến xã được HĐND tỉnh điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Tập trung tuyên truyền các chính sách miễn, giảm thuế, phí, lệ phí; gia hạn thời hạn nộp thuế. Trong năm, đã thực hiện giảm thuế giá trị gia tăng 2% đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là 104,1 tỷ đồng. Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất ưu đãi tín dụng đối với doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng dịch Covid-19, cụ thể: Cơ cấu thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ 770,1 tỷ đồng cho 1.379 khách hàng (trong đó: có 28 doanh nghiệp); Miễn, giảm lãi, giữ nguyên nhóm nợ cho 149 khách hàng với dư nợ được miễn giảm lãi 35,1 tỷ đồng, số lãi đã giảm 402 triệu đồng; Cho vay mới ưu đãi lãi suất với doanh số cho vay lũy kế 20.859 tỷ đồng, dư nợ 8.118,8 tỷ đồng/57.943 khách hàng; Hạ lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu, tổng số dư nợ được hạ lãi suất đến nay là 4.171,4 tỷ đồng với 4.308 khách hàng, mức hạ lãi suất từ 0,02% - 3,3% so với lãi suất thông thường. Tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đối với các đối tượng ưu tiên tại Nghị quyết 11/NQ-CP được Trung ương giao 314.733 triệu đồng, các tổ chức đã tích cực triển khai cho vay đến đúng đối tượng và định mức quy định.

2.3. Công tác lập quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050: Tập trung hoàn thiện các nội dung nhiệm vụ quy hoạch, đảm bảo tiến độ đề ra. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thành công Hội thảo tham vấn đối với nội dung Quy hoạch tỉnh do đồng chí Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đồng chí Bí thư Tỉnh ủy chủ trì với khoảng 70 đại biểu, chuyên gia tham dự. Tiếp thu ý kiến tham gia, hoàn thiện hồ sơ Quy hoạch tỉnh và trình Hội đồng thẩm định Quốc gia theo quy định. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tổng hợp ý kiến của các thành viên Hội đồng thẩm định Quốc gia để tổ chức Hội nghị thẩm định, dự kiến trong tháng 12/2022.

2.4. Hoạt động chuyển đổi số

Ban hành Quyết định kiện toàn Ban điều hành chuyển đổi số tỉnh Hà Giang. Các xã, phường, thị trấn đã thành lập Ban chỉ đạo chuyển đổi số; 2.071 Tổ công nghệ số cộng đồng với 12.131 hội viên tham gia. Tổ chức thành công cuộc thi trắc nghiệm trực tuyến tìm hiểu về chuyển đổi số; có 156.724 người tham gia thi, với 344.771 lượt thi, trong đó có trên 300 người ngoài tỉnh tham gia dự thi. 

Triển khai thực hiện Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến 2030. Tổ chức rà soát, bổ sung các thành phần công nghệ thông tin thiết yếu theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông phục vụ Đề án. Đã thành lập 2.276 Tổ công tác triển khai thực hiện Đề án với 12.329 thành viên tham gia. Tổ chức thu nhận hồ sơ Căn cước công dân, định danh điện tử tại Trung tâm Hành chính công tỉnh và Bộ phận một cửa cấp huyện; triển khai 11 Tổ lưu động tại địa bàn cấp xã, đã thu nhận và xử lý 84.306 hồ sơ CCCD; 106.216 hồ sơ định danh điện tử.

Duy trì có hiệu quả mạng Truyền số liệu chuyên dùng cấp II tỉnh Hà Giang; đồng thời triển khai chuyển đổi Giao thức liên mạng (IPv6) trong các cơ quan nhà nước. Ban hành Quyết định mã định danh của các cơ quan, đơn vị. Đã thực hiện chuyển đổi số cho 141 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia chuyển đổi số mô hình kinh doanh (có 01 doanh nghiệp đã chuyển đổi số thành công).

2.5. Thực hiện các nhiệm vụ phục vụ tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ III

Thành lập Tổ công tác giúp việc và phân công nhiệm vụ cụ thể cho Tổ công tác phục vụ tái đánh giá. Thực hiện 10 khuyến nghị của chuyên gia tại kỳ tái thẩm định lần thứ 2 năm 2018 và 12 khuyến nghị của Viện địa chất khoa học và khoáng sản Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ cấp bách phục vụ công tác tái đánh giá CVĐC, trong đó: Hoàn thiện trưng bày bảo tàng mini tương tự mô hình nhà cổ Ma Lé tại làng Lô Lô Chải; đôn đốc các huyện thực hiện các dự án xây dựng tuyến đường du lịch số 4, cải tạo, sửa chữa các trạm thông tin, hệ thống biển biển pano, biển tuyên truyền kết hợp ghế đá dừng chân. Thực hiện xong công tác phục vụ tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ III năm 2022.

2.6.  Chương trình xây dựng nhà ở cho người có công, cựu chiến binh nghèo, hộ nghèo có khó khăn về nhà ở

Tiếp tục triển khai Chương trình hỗ trợ xây dựng nhà ở cho cựu chiến binh nghèo, gia đình chính sách, hộ nghèo khó khăn về nhà ở. Lũy kế từ khi phát động chương trình đến 26/11/2022, đã huy động hỗ trợ từ các đơn vị, cá nhân số tiền 401.294 triệu đồng và trên 400.000 ngày công, tổng nguồn vốn đầu tư cho chương trình trên 1.200 tỷ; Toàn tỉnh đã triển khai xây dựng 6.700 nhà ở; Trong đó, Bộ Công an hỗ trợ 500 nhà, được Chủ tịch nước và nguyên Chủ tịch nước dự các Chương trình phát động, tổng kết và đánh giá cao công tác triển khai của tỉnh Hà Giang năng động, hiệu quả. Nhiều địa phương đã có những cách làm sáng tạo để chương trình đạt kết quả cao nhất như huy động hỗ trợ toàn bộ ngày công để xây dựng nhà ở cho những hộ già cả, neo đơn, không có sức lao động, kinh tế quá khó khăn; xây dựng mẫu hồ sơ xin hỗ trợ với thành phần hồ sơ, trình tự thực hiện đơn giản, dễ hiểu; vận động, hỗ trợ thêm kinh phí, vật liệu cho các hộ làm nhà phù hợp với bản sắc, phong tục tập quán từng dân tộc, đảm bảo nguyên tắc “cứng tường, cứng nền, cứng mái”. Các hộ sau khi được hỗ trợ đã có nhà mới khang trang, chắc chắn, đảm bảo cuộc sống, là động lực vươn lên thoát nghèo.

3. Về phát triển kinh tế

3.1. Sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản

a) Về trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp năm 2022 tiếp tục được mùa, diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chính đều tăng so với năm 2021, cụ thể: Tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 177.414 ha, tăng 318 ha so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực ước đạt 419.972 tấn, tăng 0,54% so với cùng kỳ năm trước, bằng 2.260 tấn.

Chủ động chuyển đổi 114,17 ha diện tích đất lúa không chủ động nước sang trồng ngô, lạc, rau đậu để nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích đất canh tác. Duy trì diện tích hiện có và cải tạo, nâng cao chất lượng cây cam, diện tích cam đạt 6.890 ha, sản lượng ước đạt 78.682 tấn; Diện tích chè ước đạt 20.378 ha, sản lượng chè búp tươi ước đạt 90.608 tấn.

b) Về chăn nuôi: Tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị sản phẩm; theo hướng quy mô trang trại. Công tác tái đàn lợn được triển khai tích cực, đã thực hiện được 73.401 con, nâng tổng đàn lợn lên 594.892 con, tăng 5,7% so với năm 2021. Tổng đàn trâu 145.759 con, giảm 1,3%; tổng đàn bò 119.072 con, tăng 0,9%. Đàn gia cầm phát triển khá với 6.276 nghìn con, tăng 7,0%. Sản lượng thịt hơi các loại đạt 54.285 tấn, tăng 6,23% so với năm 2021 (tương đương 257,6 tấn). Trong năm, xuất hiện dịch viêm da nổi cục, dịch tả lợn Châu phi phát sinh từ tháng 5/2022 tại 05 huyện với tổng số lợn mắc bệnh tiêu huỷ 572 con/54 hộ/24 thôn/15 xã. Các ngành, địa phương đã chủ động thực hiện các biện pháp khống chế, dập dịch, không để lây lan ra diện rộng; hiện nay đã có 15/15 xã công bố hết dịch. Toàn tỉnh không có trâu bò chết do đói, rét.

c) Về lâm nghiệp, tổng diện tích rừng trồng tập trung đạt 4.851 ha; trồng cây phân tán được 2.187 nghìn cây các loại. Tích cực chăm sóc rừng đã trồng, thực hiện được 2.215 ha. Thực hiện quản lý và bảo vệ rừng, đã phát hiện và xử lý 176 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp trong đó có những vụ vi phạm nghiêm trọng, giảm 88 vụ so với năm 2021. Trong năm đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại 10,73 ha.

d) Về thủy sản: Nuôi trồng thủy sản phát triển khá, trên cơ sở khai thác tiềm năng các lòng hồ thủy điện và nuôi cá chép ruộng gắn với du lịch; lũy kế đến nay có 578 lồng với thế tích khoảng 28.115m3 ; thả giống, tái tạo nguồn lợi thủy sản trên các sông, hồ được 11.646kg cá giống các loại; tổng sản lượng thủy sản thu hoạch đạt 1.946 tấn (tăng 4,94% so với năm 2021).

đ) Về Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ và Đề án phát triển bền vững cây cam sành

- Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ: Thực hiện cải tạo 2.325 vườn. Các hộ đã sử dụng vốn vay đầu tư mua cây, con giống; vật tư nông nghiệp và vật liệu xây dựng để sửa sang chuồng trại. Hiện có 1.935 vườn đã cho hiệu quả kinh tế với tổng thu nhập là: 36.362,6 triệu đồng, bình quân 18,8 triệu đồng/hộ/năm (cao gấp 2-3 lần so với trước thời điểm chưa thực hiện cải tạo vườn tạp). Thu nhập tăng thêm chủ yếu từ các sản phẩm rau, củ quả ngắn ngày, rau đậu các loại, cá chép, trắm, chăn nuôi và sản phẩm phụ chăn nuôi (trứng gà, con giống, thịt lợn,…). Ngoài ra, chương trình góp phần giải quyết việc làm ổn định cho 2.325 người; thay đổi nhận thức từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa gắn với liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm.

- Đề án phát triển bền vững cây Cam Sành năm 2022; 03 huyện (Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên) đã thẩm định và giải ngân vốn vay cho 63 hộ với kinh phí 5,3 tỷ đồng triệu đồng, thực hiện thâm canh diện tích 91,63 ha.

e) Chương trình OCOP: Hoàn thành đánh giá, phân hạng và cấp chứng nhận sản phẩm (OCOP) năm 2022, kết quả có 37 sản phẩm của 27 chủ thể đạt sao OCOP. Đến nay toàn tỉnh có 270 sản phẩm được cấp giấy chứng nhận; trong đó có 229 sản phẩm 3 sao, 39 sản phẩm 4 sao và 02 sản phẩm 5 sao cấp quốc gia; Một số sản phẩm nổi bật như: Trà xanh Phìn Hồ, Hồng trà Shan Tuyết, Rượu ngô men lá Mã Pì Lèng, Rượu mật ong lên men, Bánh chưng gù Yên Minh,...

3.2. Sản xuất công nghiệp

Hoạt động sản xuất công nghiệp phục hồi nhanh, có mức tăng khá; công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản tiếp tục được duy trì và phát triển; công nghiệp chế biến nông lâm sản phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Chủ động làm việc, nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh và hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn; các nhà máy thủy điện phát điện thương mại cơ bản vận hành ổn định, đáp ứng được các yêu cầu của hệ thống điện của tỉnh và Quốc gia. Trong năm, có 06 dự án thuỷ điện hoàn thành đi vào hoạt động. Chỉ số sản xuất công nghiệp đạt 16,8% so với năm 2021. Trong đó, tăng cao nhất là công nghiệp sản xuất và phân phối điện nước tăng 23,35%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 21,08%; công nghiệp khai khoáng tăng 14,82%. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành năm 2022 ước đạt 8.554 tỷ đồng.

3.3. Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2022 đạt 14.088 tỷ đồng, tăng 18,3% so với cùng kỳ. Giá cả các yếu tố đầu vào (vật liệu xây dựng, xăng dầu...) tăng cao khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh tăng 2,45% so với năm 2021. Trong năm, kiểm tra 1.105 vụ có dấu hiệu buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; phát hiện và xử lý 839 vụ, thu nộp NSNN 2,9 tỷ đồng; tiêu hủy hàng hóa trị giá 1,9 tỷ đồng.

        Các hoạt động thông quan, trao đổi hàng hóa tại cặp cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - Thiên Bảo gặp nhiều khó khăn do chính sách kiểm dịch nghiêm ngặt của phía Trung Quốc, số lượng và chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu giảm mạnh so với năm trước. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 61,6 triệu USD, giảm 70,4% so với cùng kỳ, đạt 26,8% kế hoạch.

Hoạt động du lịch có nhiều khởi sắc và tăng trưởng mạnh; ban hành Chương trình kích cầu du lịch tỉnh Hà Giang năm 2022 với chủ đề “Hà Giang - An toàn, bản sắc và thân thiện”. Tổ chức Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch năm 2022; Chương trình đón những vị khách đầu tiên đến Hà Giang trong năm 2022; chương trình “Hành quân theo bước chân anh”; “Qua miền di sản 6 tỉnh Việt Bắc” lần thứ XIII - Hà Giang năm 2022. Lượng khách du lịch đến Hà Giang đạt 2.200.000 lượt người, tăng 142,3% so với cùng kỳ, đạt 146,7% kế hoạch năm 2022. Doanh thu du lịch đạt 4.306 tỷ đồng, tăng 165,8% so với cùng kỳ.

3.4. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã

Tập trung triển khai Kế hoạch số 33/KH-UBND ngày 27/01/2022 về thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022; Hoàn thành khảo sát đánh giá năng lực điều hành của các sở, ban, ngành và các huyện, thành phố (DDCI) 2021. Trong đó: (i) Điểm DDCI của các Sở, ban, ngành đều thuộc nhóm điểm khá, 03 đơn vị có số điểm cao nhất gồm: Văn phòng UBND tỉnh 77,21 điểm; Sở Nông nghiệp và PTNT 76,88 điểm; Sở Y tế 76,64 điểm và 02 đơn vị có số điểm thấp nhất: Sở Tài chính 70,93 điểm; Sở Xây dựng 70,10 điểm. (ii) Điểm DDCI các địa phương chia làm 02 nhóm khá và trung bình. 03 huyện đạt số điểm cao nhất gồm: Quản Bạ 76,56 điểm; Hoàng Su phì 76,18 điểm; Xín Mần 76,07 điểm; 02 huyện có số điểm thấp nhất gồm: Yên Minh 66,14 điểm; Vị Xuyên 69,4 điểm.

Thực hiện cung cấp thông tin quy hoạch, hỗ trợ nhà đầu tư nghiên cứu khảo sát địa điểm thực hiện dự án đầu tư cho 41 doanh nghiệp. Trong đó, UBND tỉnh đã ký kết biên bản hợp tác ghi nhớ về triển khai nghiên cứu Dự án phát triển nguyên liệu sinh khối và đầu tư các dự án sử dụng nguyên liệu từ ngành nông lâm nghiệp với Công ty cổ phần Erex Nhật Bản; đẩy nhanh tiến độ đề xuất các dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ của Công ty cổ phần SiverSpring, Công ty TNHH Avana Mai Châu, Liên doanh nhà đầu tư Công ty Cổ phần Tập đoàn ONSEN FUJI và Công ty Cổ phần Khoáng nóng Thanh Thủy. Đôn đốc giải quyết và hoàn thiện thủ tục đất đai 08 dự án, môi trường 08 dự án và cấp phép khai thác mặt nước 04 dự án; Cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư 15 dự án với tổng vốn đăng ký 2.868,16 tỷ đồng; khởi công xây dựngdự án Nhà ở liền kề kết hợp thương mại, khách sạn thành phố Hà Giang. Đăng tải lên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia hồ sơ đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư 02 dự án (gồm: Nhà máy xử lý rác thải tại xã Kim Thạch, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang và Khu đô thị mới Cao nguyên đá, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang); Điều chỉnh 12 dự án thuộc lĩnh vực thủy điện, khoáng sản; chấm dứt hoạt động 10 dự án đầu tư; Thực hiện kiểm tra 40 dự án và xử phạt vi phạm hành chính 07 nhà đầu tư với số tiền là 470 triệu đồng.

Công tác giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp được thực hiện nhanh, trong 01 ngày làm việc. Vận hành hiệu quả trang zalo hỗ trợ doanh nghiệp; Thành lập Tổ hỗ trợ khởi nghiệp; xây dựng Kế hoạch tổ chức đào tạo khởi sự kinh doanh, quản trị doanh nghiệp; trong năm có 296 doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới (tăng 84 doanh nghiệp so với cùng kỳ) với tổng vốn đăng ký 1.532 tỷ đồng; 130 doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh có thời hạn (tăng 31 doanh nghiệp so với cùng kỳ); 44 doanh nghiệp giải thể (tăng 11 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Lũy kế, toàn tỉnh có 3.166 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc. Về hợp tác xã, thành lập mới được 67 HTX; có 78 HTX ngừng hoạt động và 31 HTX giải thể; lũy kế số HTX toàn tỉnh đến nay là 812 HTX.

3.5. Quản lý quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị

Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ tại Kế hoạch số 134/KH-UBND ngày 10/6/2020 của UBND tỉnh tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và trật tự xây dựng trên địa bàn tỉnh. Tổ chức lập 03 Đồ án Quy hoạch vùng huyện, 09 Đồ án quy hoạch chung xây dựng, 10 Đồ án quy hoạch phân khu xây dựng, 13 Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng; đảm bảo tiến độ và chất lượng. Tổ chức lập Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hà Giang đến năm 2035.

3.6. Tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển

a) Về thu, chi ngân sách: Tập trung chỉ đạo quyết liệt và đề ra nhiều giải pháp hiệu quả để thực hiện dự toán thu, chi NSNN năm 2022, đặc biệt là các giải pháp thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn trong điều kiện một số khoản thu, sắc thuế giảm lớn do thực hiện chính sách miễn, giảm theo Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2022 ước thực hiện 2.565/2.800 tỷ đồng, đạt 132,7% dự toán TW giao, bằng 91,6% dự toán tỉnh giao và giảm 6,1% so với năm 2021. Nếu không tính số thu tiền sử dụng đất thì các khoản thu thuế, phí còn lại đạt 2.102/2.090 tỷ đồng, đạt 100,6% kế hoạch (tương đương vượt 12 tỷ đồng so với kế hoạch), số thu cân đối ngân sách đảm bảo so với dự toán tỉnh giao, chi tiết theo các khoản thu như sau:

- Thu thuế và phí (trừ thu sử dụng đất) đạt 1.907/1.905 tỷ đồng, đạt 111,2% kế hoạch trung ương giao, vượt kế hoạch tỉnh giao.

- Thu tiền sử dụng đất đạt 463/710 tỷ đồng, đạt 661,3% kế hoạch TW giao, đạt 65,2% KH tỉnh giao. Nguồn thu tiền sử dụng đất không đạt mục tiêu do công tác quy hoạch chưa được lập kịp thời đúng thời gian, một số quy hoạch thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Công tác thẩm định giá đất kéo dài, thiếu đơn vị tư vấn giá đất.

- Thu xuất nhập khẩu đạt 95/95 tỷ đồng, đạt 108,0% kế hoạch TW giao, đạt 100% kế hoạch tỉnh giao.

- Thu khác ngân sách đạt 70,1/60 tỷ đồng, đạt 116,9% kế hoạch TW và tỉnh giao.

Thực hiện tốt các giải pháp điều hành chi ngân sách nhà nước. Chủ động cân đối nguồn NSĐP cấp cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, mua vắc xin tiêm phòng cho gia súc, thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, thực hiện các nhiệm vụ phục vụ tái đánh giá công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tổ chức các lễ hội, sự kiện và các nhiệm vụ chính trị của tỉnh... Chi ngân sách nhà nước ước cả năm 2022 đạt 18.532 tỷ đồng, đạt 97,0% kế hoạch, tăng 27,5% so với năm 2021.

b) Tín dụng: Triển khai thực hiện các chương trình tín dụng hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh cho người dân và doanh nghiệp. Tổng nguồn vốn hoạt động và quản lý của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đến 31/12/2022 là 31.240 tỷ đồng; tổng dư nợ tín dụng ước đạt 28.241 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cuối năm 2021 (vượt chỉ tiêu kế hoạch). Nợ xấu ước đến 31/12/2022 chiếm 0,41%/tổng dư nợ; tiếp tục duy trì thấp hơn 1%.

Ngân hàng Chính sách xã hội đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng chính sách, doanh số cho vay ước đạt trên 1.351,3 tỷ đồng; tổng dư nợ ước đạt trên 4.196,6 tỷ đồng. Cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội dư nợ đạt 4.189,3 tỷ đồng/88.502 hộ, tăng 592,9 tỷ đồng so với cuối năm 2021.

c) Đầu tư công: Tập trung chỉ đạo quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh công tác giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công ngay từ những tháng đầu năm 2022. Tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 22-CT/TU ngày 22/11/2022 về đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia những tháng còn lại năm 2022 và đầu năm 2023. UBND tỉnh đã ban hành 01 Hướng dẫn, 01 Kế hoạch, 04 Văn bản và Công điện chỉ đạo về giải ngân đầu tư công năm 2022; chỉ đạo tại các Kết luận phiên họp UBND hàng tháng, các cuộc làm việc của Chủ tịch UBND tỉnh đối với các Chủ đầu tư, các huyện, thành phố. Thường xuyên đôn đốc các Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án xây dựng và thực hiện cam kết tiến độ giải ngân; tập trung nhân lực, phương tiện, trang thiết bị đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án; hoàn thiện hồ sơ để triển khai thực hiện các dự án khởi công mới. Rà soát, điều chỉnh nguồn vốn của các dự án chậm giải ngân cho các dự án giải ngân tốt. Thực hiện nghiêm túc công tác giám sát, quản lý dự án đầu tư xây dựng, chấn chỉnh các đơn vị tư vấn giám sát, đơn vị thi công đảm bảo tiến độ và chất lượng. Phân bổ, hoàn thiện thủ tục đầu tư dự án dự kiến bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025; Chỉ đạo phân bổ chi tiết và giải ngân kế hoạch vốn ODA, vốn Chương trình MTQG. Cụ thể như sau:

Tổng số vốn đã giải ngân 4.242,7 tỷ đồng/5.575,1 tỷ đồng, đạt 76,1% kế hoạch, (bao gồm cả nguồn vốn kéo dài thời gian thanh toán từ năm 2021 sang năm 2022). Cụ thể:

(1) Giải ngân kế hoạch vốn kéo dài thời gian thanh toán năm 2021 sang năm 2022 là 79,92 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch.

(2) Về giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2022:

- Giải ngân kế hoạch vốn giao đầu năm (Quyết định số 2048/QĐ-TTg ngày 06/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ) 3.187,4 tỷ đồng/3.355,2 tỷ đồng, đạt 95% kế hoạch, trong đó: Vốn nước ngoài ODA giải ngân 679,3 tỷ đồng/769,5 tỷ đồng, đạt 88,29% so với kế hoạch (Bao gồm cả 354 tỷ đã đề nghị Trung ương điều chỉnh giảm).

- Giải ngân các Chương trình mục tiêu quốc gia: Tổng kế hoạch vốn NSTW giao (Quyết định số 653/QĐ-TTg ngày 28/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ) ước giải ngân là 522,6 tỷ đồng/1.493,3 tỷ đồng, đạt 35% kế hoạch.

- Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội (Quyết định số 1126/QĐ-TTg ngày 25/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ) ước giải ngân 452,7 tỷ đồng/646,7 tỷ đồng, ước đạt 70% so với kế hoạch.

d) Công tác quản lý Dự án đầu tư nước ngoài

          Công tác quản lý, thu hút vận động sử dụng nguồn vốn ODA: Tiếp tục vận động 03 dự án sử dụng vốn vay ODA, gồm: Dự án “Phát triển nông thôn thích ứng với thiên tai”, vốn vay JICA; Dự án “Phát triển cơ sở hạ tầng xanh thích ứng với biến đổi khí hậu cho đồng bào dân tộc thiểu số” sử dụng vốn vay ADB; “Dự án Quản lý tài sản đường địa phương”, sử dụng vốn vay WB. Trong đó, đoàn công tác của Vụ kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng lãnh đạo Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB đã đến khảo sát, làm việc tại tỉnh từ ngày 11-12/11/2022 về đề xuất dự án "Phát triển cơ sở hạ tầng xanh thích ứng với biến đổi khí hậu cho đồng bào dân tộc thiểu số". Trong năm 2022, trên địa bàn tỉnh có 07 chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài được thực hiện; Các chương trình, dự án được triển khai đảm bảo đúng Hiệp định đã ký, các quy định của pháp luật và kế hoạch hoạt động được duyệt.

- Công tác tiếp nhận, quản lý chương trình, dự án, phi Chính phủ nước ngoài (NGO): Trong năm, đã thực hiện thẩm định và phê duyệt 05 chương trình, dự án/phi dự án sử dụng vốn PCPNN với tổng giá trị vốn viện trợ là 11.899 triệu đồng (do các tổ chức: GTV/Italia; HAI/Anh; Abilis/Phần Lan và GNI/Hàn Quốc tài trợ). Luỹ kế, có 15 chương trình, dự án/phi dự án sử dụng vốn viện trợ đang triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh với tổng giá trị vốn viện trợ là 204.480 triệu đồng.

3.7. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ

Trong năm, phê duyệt triển khai 12 đề tài, dự án nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống. Quản lý, theo dõi 38 đề tài, dự án chuyển tiếp; phối hợp quản lý 11 đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp Trung ương. Nghiệm thu bàn giao kết quả 15 đề tài, dự án với 32 mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ được chuyển giao cho 09 doanh nghiệp, HTX và người dân ứng dụng vào sản xuất và đời sống.

Triển khai có hiệu quả các đề án, chương trình, kế hoạch lĩnh vực khoa học và công nghệ. Có 08 doanh nghiệp, HTX được áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001; 02 doanh nghiệp, HTX áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP) thực hành sản xuất nông nghiệp hữu cơ, năng suất xanh; 02 doanh nghiệp, HTX ứng dụng CNTT, công nghệ số để thiết lập, tối ưu hóa, hiện đại hóa hệ thống quản trị doanh nghiệp; 12 sản phẩm, hàng hoá của tỉnh phù hợp theo tiêu chuẩn quốc gia; Tạo 30 mã QR code cho sản phẩm cam, mật ong, thảo quả, cơm cháy, chè, gà đen, thịt lợn treo, củ cải sấy cho 18 HTX, hộ sản xuất kinh doanh.

3.8. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai

Hoàn thành xây dựng Kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2025 tỉnh Hà Giang; Đo đạc bản đồ địa chính chính và lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 25 xã tại địa bàn 07 huyện. Tổ chức cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước sông nội tỉnh cấp 3,4,5. Xây dựng 02 mô hình hướng dẫn phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, chất rắn tại nguồn tại 02 xã Nâm Dịch huyện Hoàng Su Phì và xã Việt Hồng huyện Bắc Quang.