Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang 6 tháng đầu năm 2022

1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu KTXH

- Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 6.768,94 tỷ đồng, tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn mức tăng 3,56% của 6 tháng đầu năm 2021 và là mức tăng cao nhất của 6 tháng đầu năm trong vòng 5 năm), đứng thứ 5/14 tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, đứng thứ 22/63 tỉnh, thành phố. Trong 7,86% tăng trưởng, đóng góp của các khu vực như sau:

+ Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,64%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm (trong đó nông nghiệp tăng 5,39%, lâm nghiệp tăng 8,44%, thủy sản tương đương so với cùng kỳ).

+ Khu vực công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng 16,52%, đóng góp 3,80 điểm phần trăm. Trong đó: Ngành công nghiệp tăng 23,51% (công nghiệp khai khoáng tăng 7,95%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 26,20%; công nghiệp điện tăng 26,13%); Xây dựng cơ bản tăng 5,93%.

+ Khu vực dịch vụ tăng 5,8%, đóng góp 2,66 điểm phần trăm.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 5.529,6 tỷ đồng, tăng 12,95% so với cùng kỳ năm 2021, đạt 41% KH. Trong đó: Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước quản lý thực hiện 1.741,2 tỷ đồng, tăng 27,28% so với cùng kỳ; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 3.272 tỷ đồng, tăng 3,88% so với cùng kỳ; vốn huy động khác 415,2 tỷ đồng, tăng 18,87%.

- Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 126.159 tấn, tăng 0,92% bằng 1.154 tấn so với cùng kỳ năm 2021.

- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 23,87% so với cùng kỳ (KH cả năm tăng 10,5%).

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 6.829,8 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ (KH cả năm tăng 11%).

- Lượng khách du lịch đạt 1.106.000 lượt người, tăng 72,1% so với cùng kỳ năm 2021, đạt 73,7% KH.

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.085,8 tỷ đồng (tăng 24,2% so với cùng kỳ 2021), đạt 56,2% dự toán TW giao và 38,8% dự toán Tỉnh giao.

- Tổng dư nợ tín dụng đạt 27.583 tỷ đồng, so với 31/12/2021 tăng 1.554 tỷ đồng (đạt tỷ lệ tăng 6,0%), đạt 75% kế hoạch năm (KH cả năm tăng 8%).

- Các chỉ số về cải cách hành chính của tỉnh năm 2021 tăng so với năm 2020; trong đó: chỉ số PAPI tăng 9 bậc; chỉ số SIPAS tăng 7 bậc; chỉ số PAR Index tăng 5 bậc; chỉ số PCI tăng 2 bậc.

2. Triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội

2.1. Triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

Thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia của tỉnh giai đoạn 2021-2025; chỉ đạo thành lập Tổ giúp việc Ban chỉ đạo cấp tỉnh. Hoàn thiện nội dung trình HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết quy định về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách nhà nước thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia. Triển khai thực hiện Nghị định số 27/2022/NĐ-TTg ngày 19/4/2022 của Chính phủ về việc quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025. Tập trung xây dựng Kế hoạch phân bổ vốn và Nghị quyết về cơ chế huy động, lồng ghép các nguồn vốn để thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025 và năm 2022.

Hướng dẫn và đăng ký các huyện nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo đến năm 2025 với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tiếp tục rà soát, tổng hợp và hoàn thiện danh mục các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và Miền núi giai đoạn 2021 – 2025.

Tiếp tục cập nhật, hoàn thiện xây dựng bộ tiêu chí nông thôn mới và hướng dẫn thực hiện các tiêu chí giai đoạn 2021- 2025. Tổ chức rà soát quy hoạch nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Tổ chức thẩm định và ban hành quyết định công nhận xã Phương Thiện, thành phố Hà Giang đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao năm 2021. Triển khai xây dựng Bộ tiêu chí nông thôn mới tỉnh Hà Giang giai đoạn 2021-2025. Về tiến độ cung ứng xi măng thực hiện bê tông hóa đường giao thông nông thôn năm 2022, 11/11 huyện đã đăng ký tiếp nhận xi măng, tổng khối lượng xi măng đã bàn giao cho các xã đạt 10.737/35.902 tấn (đạt 59,09% KH). Với số lượng xi măng đã tiếp nhận, các xã đã tổ chức làm được 179,76 km đường bê tông nông thôn, đạt 50,38% kế hoạch. Ngoài ra, thực hiện chung sức xây dựng nông thôn mới, lũy kế 6 tháng đầu năm, đã triển khai bó láng nền nhà 398 hộ; xây dựng 492 công trình nhà tắm, nhà tiêu hợp vệ sinh; cứng hóa, di dời 251 chuồng trại; xây dựng 247 bể nước; kiên cố hoá 3,6 km kênh mương... Nhân dân dóng góp 107.300 ngày công và hiến 74.216 m2 đất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

2.2. Thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Ban hành và triển khai Kế hoạch số 75/KH-UBND ngày 14/3/2022 về thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Tập trung hoàn thiện các trình tự, thủ tục triển khai dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1), đoạn qua tỉnh Hà Giang. Dự án đã được phê duyệt nhiệm vụ khảo sát, cắm mốc giải phóng mặt bằng, mốc lộ giới và dự toán chi phí bước lập báo cáo nghiên cứu khả thi; phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu các gói thầu liên quan đến khảo sát lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu lập báo cáo nghiên cứu khả thi. Đến nay, bước nghiên cứu khả thi đã cơ bản hoàn thành.

Tập trung tuyên truyền các chính sách miễn, giảm thuế, phí, lệ phí; gia hạn thời hạn nộp thuế. Ước 6 tháng đầu năm thực hiện giảm thuế giá trị gia tăng 2% theo Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ là 43,25 tỷ đồng. Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ lãi suất ưu đãi tín dụng đối với doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng dịch Covid-19. Về thực hiện Chương trình tín dụng chính sách đối với các đối tượng ưu tiên tại Nghị quyết 11/NQ-CP; tổng nguồn vốn được Trung ương giao 314.733 triệu đồng, kết quả triển khai như sau: Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm thực hiện cho vay 40.620 triệu đồng/690 lượt khách hàng; Chương trình cho vay nhà ở xã hội thực hiện cho vay đạt 6.820 triệu đồng/27 lượt khách hàng; Chương trình cho vay đối với học sinh, sinh viên mua máy tính, thiết bị học tập trực tuyến thực hiện cho vay 1.770 triệu đồng/177 lượt khách hàng; Chương trình cho vay đối với cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học ngoài công lập thực hiện cho vay 240 triệu đồng/3 lượt khách hàng được vay vốn.

3. Về phát triển kinh tế

3.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

a) Về trồng trọt: Tập trung hướng dẫn các địa phương về khung thời vụ khép kín, sẵn sàng các phương án phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng. Cơ cấu cây trồng được chuyển dịch theo hướng tích cực. Sản xuất vụ Đông - Xuân năm 2022 đạt kết quả tương đối toàn diện, sản lượng lúa, ngô và rau đậu vượt mục tiêu kế hoạch đề ra. Diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm đạt 59.956 ha, tăng 235 ha so với cùng kỳ. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 126.159 tấn, tăng 0,92% bằng 1.154 tấn. Hiện nay tiến độ gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Mùa cơ bản đảm bảo tiến độ theo kế hoạch, trong đó diện tích lúa 4.230 ha, ngô 233 ha, đậu các loại 460 ha, rau các loại 1.367 ha; chưa xuất hiện các loại sâu bệnh gây hại. Tuy nhiên, cuối tháng 5 và đầu tháng 6/2022, trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa to gây ngập úng hơn 2.584,3 ha lúa và hoa màu. Các ngành chuyên môn đã phối hợp địa phương chỉ đạo hướng dẫn nhân dân nhanh chóng khắc phục, giảm thiệt thiệt hại cho cây trồng.

b) Về chăn nuôi: Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định; dịch Tả lợn Châu phi, Viêm da nổi cục đã được khống chế. Tổ chức rà soát các trang trại, các hộ chăn nuôi đủ điều kiện để tái đàn lợn phù hợp với từng địa phương; hướng dẫn, bảo đảm tái đàn lợn thành công, không để dịch bệnh tái phát. Lũy kế 6 tháng đầu năm, đã triển khai tái đàn lợn được trên 30.200 con, đưa tổng đàn lợn đạt 618.540 con, tăng 2,6% so với cùng kỳ; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 20.045 tấn, tăng 4,73%. Đàn gia cầm phát triển khá, tổng đàn gia cầm đạt 5.735 nghìn con, tăng 4,98% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 5.280 tấn, tăng 16,45%. Tình hình chăn nuôi trâu, bò gặp khó khăn hơn do tâm lý lo ngại dịch bệnh và giá bán giảm sâu; tổng đàn trâu, bò trên địa bàn tỉnh đạt 265.302 con, giảm 2,83% so với cùng kỳ; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 5.500 tấn, giảm 16,89%.

c) Về lâm nghiệp: Tập trung công tác chuẩn bị giống, khảo sát đất để thực hiện Kế hoạch trồng rừng năm 2022; đã gieo ươm được 4.692,9 nghìn cây giống các loại. Diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 3.146 ha; trồng cây phân tán được 1.530 nghìn cây các loại. Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường; đã phát hiện 83 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, giảm 44 vụ so với cùng kỳ. Tình hình cháy rừng trên địa bàn xảy ra 02 vụ, diện tích thiệt hại là 10,73 ha (huyện Đồng Văn 7,93 ha, Bắc Mê 2,8 ha). Ngay sau khi phát hiện cháy, đã tích cực phối hợp với chính quyền địa phương tham gia chữa cháy và thực hiện điều tra, xác minh, củng cố hồ sơ vụ cháy rừng để xử lý theo quy định của pháp luật.

d) Về thủy sản: Trong 6 tháng đầu năm tổng sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 1.634 tấn, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1.575 tấn, tăng 5,35% ; sản lượng thủy sản khai thác đạt 59 tấn, tăng 5,36%). Phát động các địa phương hưởng ứng thả giống, tái tạo nguồn lợi thủy sản trên các sông, hồ được 11.646 kg cá giống các loại.

e) Về Chương trình OCOP: Triển khai kế hoạch phát triển các sản phẩm (OCOP) năm 2022, tập trung vào các sản phẩm nông sản đặc trưng của tỉnh như Cam sành, mật ong Bạc hà, hồng không hạt, chè Shan tuyết cổ thụ. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, giới thiệu quảng bá các sản phẩm OCOP trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hoàn thành việc đánh giá, phân hạng và cấp chứng nhận sản phẩm (OCOP) năm 2022, kết quả có 40 sản phẩm của 29 chủ thể đạt 3 sao. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 233 sản phẩm được cấp giấy chứng nhận; trong đó có 193 sản phẩm 3 sao, 38 sản phẩm 4 sao và 02 sản phẩm 5 sao cấp Quốc gia.

3.2. Hoạt động sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm tăng 23,87% so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,04%; công nghiệp chế biến tăng 23,01%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 30,03%; cung cấp nước và xử lý rác thải giảm 0,71% so với cùng kỳ. Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm 2022 tăng so với cùng kỳ như: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế (tăng 244,79%); sản xuất chế biến thực phẩm (tăng 75,87%); sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy (tăng 73,50%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (tăng 74,18%); sản xuất đồ uống (tăng 31,15%)…Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) 6 tháng đầu năm ước đạt 3.847,7 tỷ đồng, tăng 25,18% so với cùng kỳ.

3.1. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch

Các hoạt động thương mại dịch vụ và xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, thương mại điện tử, ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh doanh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 6.829,8 tỷ đồng, tăng 13,8% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh 6 tháng đầu năm tăng 1,91% so với cùng kỳ, trong đó tăng cao nhất là giao thông tăng 14,62% (do giá xăng, dầu liên tiếp được điều chỉnh tăng 12 đợt trong 6 tháng đầu năm 2022), nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,52%... Công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện quyết liệt; đã kiểm tra 411 vụ, phát hiện và xử lý vi phạm hành chính 315 vụ, thu nộp kho bạc nhà nước 1.171,5 triệu đồng.

Về hoạt động xuất nhập khẩu, trong 5 tháng đầu năm, do chính sách “không Covid-19” của phía đối diện nên hoạt động thông quan, trao đổi hàng hóa tại cặp cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy - Thiên Bảo tạm dừng. Từ cuối tháng 5 đến nay đã có dấu hiệu hồi phục tuy nhiên còn gặp nhiều khó khăn. Lũy kế 6 tháng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 22,4 triệu USD, giảm 82,2% so với cùng kỳ, đạt 9,7% kế hoạch.

Hoạt động vận tải phục hồi và đạt mức tăng khá so với cùng kỳ. Tổng doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi 6 tháng đầu năm ước đạt 333,3 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách 108,9 tỷ đồng, tăng 11,79% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa 219 tỷ đồng, tăng 20,62%.

Hoạt động du lịch có nhiều khởi sắc và tăng trưởng mạnh; ban hành Chương trình kích cầu du lịch tỉnh Hà Giang năm 2022 với chủ đề “Hà Giang - An toàn, bản sắc và thân thiện”. Tổ chức thành công chương trình đón những vị khách đầu tiên đến Hà Giang trong năm 2022; chương trình “Hành quân theo bước chân anh” thu hút đông đảo khách du lịch và các thành phần tham gia trải nghiệm. Tổ chức Hội nghị gặp mặt các doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch năm 2022; Hội thảo “Bản sắc văn hoá dân tộc Mông và vai trò của phụ nữ trong phát triển du lịch và kinh tế xã hội tại Hà Giang”. Lượng khách du lịch đến Hà Giang trong 6 tháng đạt 1.106.000 lượt người, tăng 72,1% so với cùng kỳ, đạt 73,7% kế hoạch năm 2022. Doanh thu du lịch đạt 2.211,3 tỷ đồng.

3.4. Tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển

a) Về thu, chi ngân sách

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6 tháng ước đạt 1.085,8 tỷ đồng (tăng 24,2% so với cùng kỳ 2021), đạt 56,2% dự toán TW giao và 38,8% dự toán Tỉnh giao. Trong đó:

- Thu nội địa đạt 1.035,3 tỷ đồng (tăng 26,1% so với cùng kỳ), đạt 56,1% dự toán TW giao, đạt 38,7% dự toán Tỉnh giao. Có 7/15 khoản thu, sắc thuế đạt trên 50% dự toán tỉnh giao và tăng so với cùng kỳ. Theo địa bàn, có 5/11 huyện đạt trên mức bình quân chung.

- Thu thuế xuất nhập khẩu đạt 44 tỷ đồng (giảm 12% so với cùng kỳ), đạt 50% dự toán TW giao, đạt 46,3% dự toán Tỉnh giao.

Chi ngân sách địa phương 6 tháng đạt 6.654,5 tỷ đồng (đạt 41% kế hoạch tỉnh giao).

 b) Tín dụng: Tập trung triển khai các chương trình tín dụng nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh; doanh số cho vay tín dụng 6 tháng đầu năm ước đạt 16.534 tỷ đồng, đưa tổng dư nợ tín dụng ước đạt 27.583 tỷ đồng, tăng 6,0% so với cuối năm 2021, trong đó: Ngành thương mại và dịch vụ chiếm 33,2%; ngành sản xuất, phân phối điện, nước chiếm 21,5%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,2%… Các chương trình tín dụng chính: Cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP tăng 673 tỷ đồng so với cuối năm 2021, dư nợ đạt 11.894 tỷ đồng; cho vay hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 250 tỷ đồng so với cuối năm 2022, dư nợ đạt 1.975 tỷ đồng... Ngân hàng chính sách xã hội đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng chính sách, doanh số ước đạt trên 81 tỷ đồng; tổng dư nợ ước đạt 3.953,9 tỷ đồng. Cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội dư nợ đạt 3.947,2 tỷ đồng/88.502 hộ, tăng 350,8 tỷ đồng so với cuối năm 2021.

c) Đầu tư công: Tập trung đôn đốc các chủ đầu tư hoàn thành giải ngân, thanh toán các nguồn vốn năm 2021. Thực hiện đối chiếu số liệu thanh toán vốn đầu tư năm 2021 của các công trình, dự án; xác định số vốn đầu tư còn tồn đề xuất chuyển nguồn sang năm 2022 tiếp tục thanh toán. Tổ chức khởi công dự án cải tạo, nâng cấp đường Bắc Quang - Xín Mần (ĐT.177). Hoàn thiện các hồ sơ trình kỳ họp thứ năm, HĐND tỉnh phê duyệt danh mục dự án đầu tư, phương án giao bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2021-2025… Chỉ đạo phân bổ chi tiết và giải ngân kế hoạch vốn ODA. Chỉ đạo các chủ đầu tư xây dựng kế hoạch thực hiện và giải ngân các nguồn vốn năm 2022; đồng thời thực hiện quyết toán các dự án hoàn thành. Ước đến 30/6/2022, giải ngân các nguồn vốn được 960,3 tỷ đồng, đạt 27,95% so với kế hoạch Trung ương giao, đạt 23,46% so với kế hoạch Tỉnh giao.

3.5. Thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã

Ban hành và triển khai Kế hoạch số 33/KH-UBND ngày 27/01/2022 về thực hiện nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022. Hỗ trợ khảo sát, giải quyết đề nghị đầu tư của 13 doanh nghiệp, các dự án tập trung vào các lĩnh vực như phát triển đô thị, du lịch sinh thái, xây dựng nhà máy xử lý rác thải, nghĩa trang, chế biến nông sản, chăn nuôi gia súc.... Trong 6 tháng, có 03 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký 116,661 tỷ đồng; điều chỉnh 08 dự án; thông báo chấm dứt hoạt động 03 dự án.

Công tác giải quyết thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp được thực hiện nhanh, đảm bảo trong vòng 01 ngày làm việc. Chia sẻ các ý tưởng khởi nghiệp và các cơ chế, chính sách mới về hỗ trợ khởi nghiệp trên nhóm Cộng đồng khởi nghiệp tỉnh Hà Giang. Thành lập Tổ hỗ trợ khởi nghiệp và xây dựng Kế hoạch tổ chức đào tạo khởi sự kinh doanh, quản trị doanh nghiệp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh; trong 6 tháng đầu năm có 143 doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc (gọi chung là doanh nghiệp) đăng ký thành lập mới (tăng 18 doanh nghiệp so với cùng kỳ) với tổng vốn đăng ký 1.032,23 tỷ đồng; 106 doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh có thời hạn (tăng 28 doanh nghiệp so với cùng kỳ); 27 doanh nghiệp giải thể (tăng 10 doanh nghiệp so với cùng kỳ). Lũy kế, toàn tỉnh có 3.025 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc. Về hợp tác xã, thành lập mới được 24 HTX; có 147 HTX ngừng hoạt động và 10 HTX giải thể; lũy kế số HTX toàn tỉnh đến nay là 769 HTX.

3.6. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Quản lý 47 đề tài, dự án, trong đó có 44 đề tài, dự án cấp tỉnh; 03 đề tài, dự án cấp bộ được ủy quyền. Tổ chức Hội nghị tuyển chọn nhiệm vụ thuộc Chương trình quỹ gen, đã tuyển chọn được 02 hồ sơ đạt yêu cầu để tổ chức thực hiện năm 2022. Tiếp nhận các công nghệ sản xuất có quy mô phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm như: công nghệ sản xuất ván ghép thanh từ gỗ rừng trồng, công nghệ chế biến chè xuất khẩu, công nghệ sấy và chế biến thảo quả, công nghệ lên men các sản phẩm từ tỏi. Công tác quản lý và triển khai các đề tài, dự án được thực hiện đảm bảo quy định, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả cao.

3.7. Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai

Hoàn thành xây dựng Kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2025 tỉnh Hà Giang. Tổ chức hội nghị phối hợp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, hướng dẫn 94 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư hoàn thiện các thủ tục về đất đai. Phê duyệt kết quả Điều tra, đánh giá số lượng, chất lượng tài nguyên nước dưới đất và xác định ngưỡng giới hạn khai thác nhằm bảo vệ tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Đôn đốc, yêu cầu 06 doanh nghiệp báo cáo kết quả khắc phục các tồn tại trong hoạt động khai thác khoáng sản theo kết quả kiểm tra năm 2020 của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Tổ chức 01 cuộc thanh tra, 12 cuộc kiểm tra đối với 33 tổ chức về chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, đất đai, môi trường; kết quả đã phát hiện sai phạm và xử phạt vi phạm hành chính đối với 05 tổ chức, số tiền 560 triệu đồng. Kiểm tra thực tế 04 công trình cấp nước sinh hoạt và cấp phép khai thác nước trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm có 35 dự án ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường với tổng số tiền trên 3,7 tỷ đồng và 10 đơn vị nộp phí nước thải công nghiệp với tổng số tiền 76,4 triệu đồng.

Chủ động triển khai đến người dân các biện pháp phòng chống thiên tai, rét đậm, rét hại. Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết xấu, mưa lớn, dông lốc, sét đánh, trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 đợt thiên tai gây thiệt hại khoảng 43 tỷ đồng. Ngay sau khi thiên tai xảy ra, lực lượng phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp đã kịp thời xuống hiện trường thống kê thiệt hại, huy động lực lượng khắc phục, hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống.

4. Công tác lập Quy hoạch tỉnh và các quy hoạch xây dựng

4.1. Công tác lập quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050: Phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thành công Hội thảo tham vấn đối với nội dung Quy hoạch tỉnh do đồng chí Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì với khoảng 70 đại biểu tham dự. Đôn đốc đơn vị tư vấn tiếp thu ý kiến tham gia và hoàn thiện hồ sơ Quy hoạch tỉnh trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Tỉnh ủy trước khi trình Hội đồng thẩm định theo quy định.

4.2. Quản lý quy hoạch và phát triển đô thị: Triển khai lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư đối với 09 đồ án quy hoạch phân khu thành phố Hà Giang. Hoàn thành triển khai bước lựa chọn đơn vị tư vấn khảo sát địa hình làm cơ sở lập đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch xã Du Già (huyện Yên Minh) và đồ án Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch sông Nho Quế (huyện Mèo Vạc). Triển khai bước lập nhiệm vụ - dự toán đối với 03 Đồ án quy hoạch chung xây dựng; 01 Đồ án quy hoạch chung đô thị; 01 Đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện; 01 Đồ án quy hoạch phân khu xây dựng; 04 Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng.

5. Triển khai các Chương trình đề án của tỉnh

5.1. Thực hiện Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ và Đề án phát triển bền vững cây cam sành

Ban hành và tích cực triển khai Kế hoạch số 55/KH-UBND ngày 22/02/2022 về cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững năm 2022. Tổng số hộ đã thực hiện là 1.394 hộ (tăng 44% so với cùng kỳ năm trước, đạt 97,3% kế hoạch), đã giải ngân 29.804 triệu đồng/1.006 hộ, (đạt 72,59% kế hoạch năm 2022) với diện tích vườn đã cải tạo là 607.623 m2 (tăng 11,7% so với cùng kỳ). Các vườn đã được cải tạo để trồng các loại rau, củ quả, dược liệu, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; các cây, con sinh trưởng và phát triển tốt.

Về kế hoạch phát triển bền vững cây Cam sành, 03 huyện (Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên) đã tổ chức đăng ký các hộ thực hiện đầu tư thâm canh với diện tích 98,23 ha. Đến nay huyện Bắc Quang đã thẩm định và giải ngân vốn vay cho 37 hộ với số tiền 3.000 triệu. Huyện Vị Xuyên và Quang Bình đang rà soát, hoàn thiện hồ sơ, tổ chức thẩm định và giải ngân.

5.2. Hoạt động chuyển đổi số

Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Tập đoàn FPT triển khai các nội dung đã ký kết. Ban hành hướng dẫn kết nối, tích hợp và chia sẻ dữ liệu thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu LGSP tỉnh Hà Giang, đồng thời kết nối với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành Trung ương thông qua trục chia sẻ, tích hợp dữ liệu quốc gia phục vụ phát triển Chính quyền điện tử tỉnh Hà Giang.

Tổ chức các lớp tập huấn chuyển đổi số trên địa bàn các huyện, thành phố; Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi số cho 04 xã thí điểm, gồm: xã Phiêng Luông huyện Bắc Mê, thị trấn Việt Quang huyện Bắc Quang, xã Nậm Ty huyện Hoàng Su Phì, xã Tả Ván huyện Quản Bạ. Thông qua công tác tập huấn gúp các học viên ứng dụng tốt chuyển đổi số vào giải quyết công việc. Tỷ lệ ứng dụng chữ ký số của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ văn bản ký số của tổ chức trung bình đạt 92,61%; một số huyện có tỷ lệ cao như UBND huyện Quang Bình 100%, UBND huyện Xín Mần 99,38%.

Tham dự Hội thảo thường niên chuyển đổi số doanh nghiệp năm 2021 “Rào cản và nhu cầu chuyển đổi số”. Phối hợp với công ty Base-FPT và Công ty Sendo tổ chức 02 Hội thảo trực tuyến về chuyển đổi số doanh nghiệp với gần 120 doanh nghiệp, HTX, Hộ kinh doanh tham gia. Trong 6 tháng đầu năm, hỗ trợ Công ty Base - FPT làm việc trực tiếp với 24 doanh nghiệp, HTX. Lũy kế đến nay đã có 141 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh ứng dụng bán hàng trên các sàn thương mại điện tử; có 04 công ty triển khai gói chuyển đổi số mô hình quản trị.

Về truyền thông số, thực hiện phát trực tiếp chương trình nghệ thuật "Sắc Xuân nơi địa đầu Tổ quốc" trên Fanpage Thông tin Hà Giang. Truyền thông trên mạng xã hội về các hoạt động chuẩn bị, đảm bảo đón xuân Nhâm Dần; kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Lễ hội chợ Phong Lưu Khâu Vai 2022; quảng bá du lịch Hà Giang; Người đẹp Cao nguyên đá…

5.3. Thực hiện các nhiệm vụ phục vụ tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ III

 Triển khai Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 06/01/2022 về các nhiệm vụ phục vụ tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ III năm 2022. Thành lập Tổ công tác giúp việc và phân công nhiệm vụ cụ thể cho Tổ công tác phục vụ tái đánh giá. Duy trì kiểm tra hiện trạng các điểm di sản, điểm khai thác đá, điểm dừng chân trên địa bàn Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn. Đón tiếp và làm việc với Đoàn công tác Viện khoa học địa chất và khoáng sản, chuyên gia Hội đồng Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO. Tổ chức đón đoàn khảo sát tiền thẩm định Tái đánh giá; đoàn công tác tỉnh Khammouane (Khăm Muộn), Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào khảo sát tại Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.

Tập trung triển khai thực hiện 10 khuyến nghị của chuyên gia tại kỳ tái thẩm định lần thứ 2 năm 2018 và 12 khuyến nghị của Viện địa chất khoa học và khoáng sản Việt Nam. Triển khai và đôn đốc các huyện vùng công viên địa chất thực hiện các dự án, công trình xây dựng tuyến đường du lịch số 4. Hoàn thiện gửi hồ sơ tái đánh giá cho Uỷ ban quốc gia Unesco Việt Nam để chuyển tới GGN. Tiếp tục triển khai các công trình cải tạo, sửa chữa các trạm thông tin, hệ thống biển biển pano, biển tuyên truyền kết hợp ghế đá dừng chân; thiết kế trưng bày Bảo tàng cao nguyên đá Đồng Văn.