Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I/2021

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I/2021

 

I. Lĩnh vực kinh tế.

1. Về nông lâm nghiệp

a) Đẩy mạnh triển khai, đưa Nghị quyết về Cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững và Phát triển bền vững cây Cam Sành vào cuộc sống. Tỉnh đã chủ động làm việc với Ngân hàng CSXH Việt Nam để xin ý kiến về cơ chế triển khai Nghị quyết số 58/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 của HĐND tỉnh về thực hiện chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế vườn hộ và phát triển bền vững cây cam sành trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2025. Triển khai ký Hợp đồng ủy thác nguồn vốn ngân sách địa phương qua Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh để cho vay theo Nghị quyết số 58/2020/NQ-HĐND với tổng kinh phí năm 2021 là 19.559,8 triệu đồng. Xây dựng và hoàn thiện cẩm nang hướng dẫn người dân thực hiện.

- Đã có 11/11 huyện/thành phố ban hành kế hoạch triển khai và thành lập ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cho tập thể, cá nhân phụ trách giúp đỡ các hộ cải tạo vườn tạp; tổ chức Lễ phát động phong trào cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ. Tổng số hộ đã thực hiện cải tạo vườn tạp là 228 hộ/253.471 m2; trong đó, số hộ đổ đất cải tạo nương đá là 60 hộ/17.601m2 (tại huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh). Số hộ đã được Ngân hàng Chính sách xã hội giải ngân là 06 hộ với số tiền tương ứng là 180 triệu đồng (30 triệu đồng/hộ). Ngoài ra, các tổ chức hội, đoàn thể cùng lực lượng vũ trang, lực lượng các xã, thị trấn đã vào cuộc, ra quân giúp người dân thực hiện cải tạo vườn tạp, chỉnh trang vườn hộ với hơn 4.100 ngày công, hỗ trợ kỹ thuật được 18 buổi, huy động đóng góp được trên 33 triệu đồng (huyện Hoàng Su Phì). Một số huyện đã chủ động, linh hoạt triển khai các biện pháp hỗ trợ giống cây, vật tư nông nghiệp để thực hiện Đề án. Ngành Nông nghiệp đã huy động xã hội hóa được 5.000 con gà với kinh phí khoảng 150 triệu đồng.

- Đã triển khai dự án Cải tạo thay thế vườn cam già cỗi, kém hiệu quả để phục vụ công tác rải vụ với qui mô 260 ha/195 hộ tham gia. 03 huyện Bắc Quang, Quang Bình và Vị Xuyên đã tổ chức triển khai thí điểm cho 21 tổ chức, cá nhân đăng ký vay vốn để nâng cao chất lượng cam sành với tổng diện tích thực hiện là 200 ha; số tiền dự kiến vay vốn là 12 tỷ đồng. Các tổ chức, cá nhân đề nghị được hưởng hỗ trợ cước phí vận chuyển dự kiến là 500 tấn, kinh phí đăng ký hỗ trợ là 50 triệu đồng. Có 01 tổ chức (Trung tâm KHKT giống cây trồng Đạo Đức) đăng ký hỗ trợ bảo tồn gen, nhân giống tốt và chuyển giao kỹ thuật.

b) Triển khai phê duyệt và thực hiện hỗ trợ theo Nghị quyết số 09/2019/NQ-HĐND ngày 19/7/2019 của HĐND tỉnh về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh: Đã phê duyệt 03 dự án liên kết cấp tỉnh gồm: (1) Dự án liên kết trồng - chế biến - tiêu thụ sản phẩm từ cây dược liệu trên địa bàn tỉnh; (2) Dự án liên kết trồng lạc để bao tiêu sản phẩm lạc củ và chế biến tình dầu lạc; (3) Dự án liên kết chăn nuôi Bò sinh sản và Bò thịt tỉnh Hà Giang. Tổng kinh phí nhà nước hỗ trợ trong 03 năm là 19.644,318 triệu đồng; riêng năm 2021 là 17.344,184 triệu đồng. Các huyện, thành phố đã phê duyệt và thực hiện 26 dự án, kế hoạch với tổng kinh phí thực hiện 21.401,998 triệu đồng.

c) Về trồng trọt

- Sản xuất vụ Đông 2020 – 2021 cơ bản đạt kế hoạch đề ra: Tổng diện tích gieo trồng đạt 11.111 ha, tăng 4,2% so với cùng vụ năm trước. Trong đó: Cây ngô gieo trồng 1.409 ha, năng suất ước đạt 30,37 tạ/hạ, sản lượng ước đạt 4.281,9 tấn, tương đương so với cùng vụ năm trước; cây ngô sinh khối gieo trồng 93,6 ha, năng suất ước đạt 369,8 tạ/ha, sản lượng ước đạt 3.461,6 tấn; tam giác mạch gieo trồng 493 ha, sản lượng ước đạt 248,7 tấn; rau, đậu các loại gieo trồng 8.571,9 ha, sản lượng thu hoạch ước 53.538,4 tấn.  

- Sản xuất vụ Xuân cơ bản đạt tiến độ, đảm bảo khung thời vụ: Diện tích lúa đã cấy đạt 8.923 ha, giảm 3,1% so với năm trước, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt; diện tích ngô đã trồng 26.692 ha, tăng 42,1% so với năm trước, các huyện vùng thấp đã hoàn thành gieo trồng 100% diện tích, các huyện vùng cao đang tiếp tục gieo trồng ngô chính vụ; cây ngô sinh khối đã trồng được 151,2 ha, đạt 44,6% kế hoạch; đậu tương đã trồng 3.732,9 ha; lạc 5.726,7 ha; rau, đậu các loại 5.761,7 ha. Tiếp tục triển khai chương trình cánh đồng mẫu theo phương pháp “5 cùng” với tổng diện tích 1.468,8 ha/176 cánh đồng. Đồng thời tập trung chuyển đổi 58,89 ha đất trồng lúa không chủ động được nước tưới sang trồng các loại cây khác có giá trị kinh tế cao hơn.

- Tập trung thu hoạch, tỉa cành, bón phân và chăm sóc cây cam, quýt: Tính đến nay toàn tỉnh đã tiêu thụ được trên 36.650 tấn cam, chiếm khoảng 61% tổng sản lượng cam toàn tỉnh. Việc tiêu thụ cam gặp nhiều khó khăn, giá bán thấp khoảng 4.000 đồng/kg - 8.000 đồng/kg. Tính đến ngày 10/3/2021, trên địa bàn huyện Bắc Quang và Quang Bình xảy ra hiện tượng cam rụng quả, sản lượng quả rụng khoảng 4.076 tấn (chiếm 5,7% tổng sản lượng). Các ngành chuyên môn đã tăng cường xuống cơ sở để tìm hiểu nguyên nhân và hướng dẫn thu gom, xử lý số cam rụng, không để ảnh hưởng đến môi trường. Đồng thời, kết nối, thúc đẩy tiêu thụ cam với các địa phương trong tỉnh và trên cả nước; thực hiện kiểm tra sản xuất, lấy mẫu test nhanh an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm Cam trước khi đưa vào tiêu thụ tại hệ thống siêu thị Vinmart. Lũy kế số lượng cam được kiểm tra và đưa vào siêu thị là 277,43 tấn.

d) Về chăn nuôi: Tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng qui mô trang trại, gia trại để thành hàng hóa, lũy kế đến nay toàn tỉnh có 140 trang trại (tăng 01 trang trại so với cuối năm 2020). Thực hiện thụ tinh nhân tạo cho đàn trâu, bò được 710 con, thành công 404 con (tỷ lệ 56,9%). Triển khai tái đàn lợn được trên 15.400 con; lũy kế từ khi hết dịch Tả lợn Châu phi đã thực hiện được trên 98.800 con. Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai quyết liệt, đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở; đã cung ứng được 30.810 liều, triển khai tiêm phòng được 318.570 lượt con. Trong quý, xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N6 tại 02 thôn Mục Lạn và Xuân Hòa, xã Tân Quang, huyện Bắc Quang với tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 4.094 con. Tỉnh đã thành lập 01 chốt kiểm dịch tạm thời tại thôn Mục Lạn để thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc buôn bán, vận chuyển gia cầm và thực hiện phun khử trùng tất cả các phương tiện ra, vào vùng dịch nhằm hạn chế sự lây lan. Cấp 20.000 liều vắc xin cúm gia cầm cho huyện Bắc Quang triển khai tiêm phòng bao vây ổ dịch. Đến nay dịch đã được khống chế hoàn toàn (trên 21 ngày không phát sinh). Công tác lấy mẫu giám sát dịch cúm gia cầm và kiểm dịch vận chuyển được thực hiện chặt chẽ, nhằm ngăn chặn phát sinh dịch bệnh lây lan. Các huyện, thành phố chủ động phòng chống rét và dự trữ thức ăn cho đàn gia súc tuy nhiên do ảnh hưởng của rét đậm, rét hại đã có 06 con trâu bị chết tại huyện Xín Mần.

đ) Về lâm nghiệp: Tập trung công tác chuẩn bị giống, khảo sát đất để thực hiện Kế hoạch trồng rừng năm 2021; đã gieo ươm được trên 8,5 triệu cây giống các loại. Tổng diện tích rừng trồng tập trung do nhân dân tự thực hiện (tính đến ngày 10/3/2021) là 756 ha (trong đó: diện tích trồng rừng mới là 86 ha, diện tích rừng trồng sau khai thác là 688 ha. Hưởng ứng Tết trồng cây, các địa phương, cơ quan, đơn vị, trường học đã trồng được 738 nghìn cây (cây cảnh quan, cây ăn quả là 3,3 nghìn cây; cây lâm nghiệp 734,7 nghìn cây). Khai thác gỗ được 34.875 m3; thu quỹ dịch vụ môi trường rừng được gần 5,5 tỷ đồng. Tăng cường phổ biến, tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng. Tuy nhiên xảy ra 02 vụ cháy rừng với diện tích bị cháy là 0,234 ha rừng trồng. Phát hiện 75 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp (tăng 14 vụ so với cùng kỳ năm 2020), đã xử lý 69 vụ.

e) Về thủy sản: Tập trung đánh bắt và tiêu thụ sản phẩm thủy sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán; tiến hành nạo vét tu sửa ao hồ, đồng thời ươm nuôi, chăm sóc cá giống chuẩn bị cho vụ sản xuất mới. Tổng sản lượng thủy sản thu hoạch quý I đạt 667 tấn, trong đó: sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 633,7 tấn, tăng 2,13% so với cùng kỳ; sản lượng thủy sản khai thác đạt 33,1 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ.

g) Về phát triển các sản phẩm OCOP: Triển khai xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình OCOP năm 2021. Lũy kế đến nay đã phân hạng được 193 sản phẩm (cấp tỉnh: 37 sản phẩm đạt hạng 4 sao, 154 sản phẩm đạt hạng 3 sao; cấp Quốc gia 02 sản phẩm đạt 5 sao). Ngoài ra, một số sản phẩm nổi bật khác sau khi được xếp hạng đã xây dựng được thương hiệu và có thị trường tiêu thụ ổn định.

2. Về thương mại, dịch vụ và du lịch

a) Về thương mại, dịch vụ: Các hoạt động thương mại, dịch vụ tăng trưởng khá so cùng kỳ. Ước quý I, tổng mức bán lẻ đạt 3.165,1 tỷ đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ. Giá cả các loại hàng hóa được kiểm soát tốt; chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh giảm 1,05% so với cùng kỳ năm 2020. Tổ chức nhiều hoạt động xúc tiến thương mại như Hội thi cam, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã tiêu thụ sản phẩm, mở các gian hàng hỗ trợ người dân tiêu thụ sản phẩm Cam…

Các ngành chức năng thực hiện tốt công tác quản lý, giám sát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi vận chuyển, buôn bán hàng lậu, hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, đầu cơ găm hàng và vi phạm về giá, đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, quần áo, xăng, dầu và gas... Trong quý đã kiểm tra 265 vụ, xử lý vi phạm hành chính 202 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 782 triệu đồng, tiêu hủy hàng hóa trị giá trên 250 triệu đồng.

Tình hình kinh doanh vận tải gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Trong tháng 01 và tháng 02, để phục vụ cho công tác phòng chống dịch bệnh, người dân đã hạn chế đi lại, nhất là đi du lịch và lễ hội đầu xuân; các cơ sở kinh doanh vận tải tăng cường thực hiện nghiêm các quy định đảm bảo an toàn phòng chống dịch. Từ đầu tháng 3, khi tình hình dịch bệnh trong cả nước và trong tỉnh từng bước được khống chế đã tác động tích cực hơn đến tình hình kinh doanh vận tải. Hoạt động tại Bến xe khách tỉnh đảm bảo an toàn, thông suốt; số đơn vị vận tải hoạt động tại bến là 44 đơn vị với 277 phương tiện; trong quý có 11.597 chuyến xe xuất bến với 54.074 lượt khách. Doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi quý I ước đạt 161,1 tỷ đồng, tăng 15,97% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu vận tải hành khách 57,6 tỷ đồng; doanh thu vận tải hàng hoá 100,7 tỷ đồng; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải 2,8 tỷ đồng.

Tổng trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu trong quý tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do công tác phòng chống dịch Covid – 19 nên phía Trung Quốc tăng cường các biện pháp quản lý việc di chuyển của người và phương tiện vận tải trong nội địa ra biên giới. Mặc dù, các ngành chức năng đã tích cực thực hiện giải quyết thủ tục hải quan cho doanh nghiệp, không gây ách tắc, chậm trễ đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh; thực hiện phương án “5 tại chỗ” đối với việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho hàng sang Trung Quốc; thường xuyên điện đàm, gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan đối đẳng phía Trung Quốc về biện pháp phòng, chống dịch bệnh tại cửa khẩu Thanh Thủy – Thiên Bảo; bàn giải pháp linh hoạt nhằm hỗ trợ xuất nhập khẩu hàng hóa và đẩy nhanh việc thông quan hàng hóa tại cửa khẩu. Nhưng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại các cửa khẩu vẫn bị hạn chế, không đạt kỳ vọng đặt ra. Tổng trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu quý I/2021 ước đạt 71 triệu USD, tăng 47,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 26,3% chỉ tiêu của tỉnh.

b) Về hoạt động du lịch: Ngay sau khi dịch bệnh Covid-19 được khống chế và kiểm soát trên địa bàn tỉnh, lượng khách du lịch trong tháng 3 đã tăng gấp 2 lần so với tháng 02, đạt 104.805 lượt du khách. Lũy kế quý I đạt 352.623 lượt du khách, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2020 (trong đó, khách quốc tế là 1.568 lượt, khách nội địa là 351.055 lượt); tổng doanh thu từ khách du lịch đạt 581 tỷ đồng. Các cơ sở lưu trú, doanh nghiệp du lịch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động phục vụ du khách, đồng thời tuân thủ nghiêm các quy định về phòng chống dịch Covid-19. Hiện có 70/882 cơ sở lưu trú tạm ngừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch bệnh.

Trong quý, Tỉnh đã xây dựng 04 sản phẩm của địa phương (Cháo ấu tẩu, Mèn mén, Mật ong Bạc Hà, trà san tuyết) và được Hội kỷ lục Guinness Việt Nam công nhận trong nhóm 100 sản phẩm ẩm thực và quà tặng hấp dẫn của Việt Nam. Tổ chức khảo sát, quảng bá sản phẩm du lịch mới tại huyện Quang Bình và Vị Xuyên về: (1) Du lịch tâm linh điểm nhấn 1509 và các sản phẩm lân cận; (2) Tour du lịch trải nhiệm khám phá: “Khu di tích lịch sử Trọng Con – Làng văn hóa du lịch cộng đồng xã Xuân Giang, huyện Quang Bình - Du lịch nông nghiệp, trải nghiệm vườn Cam sành xã Trung Thành, huyện Vị Xuyên”.

3. Về sản xuất công nghiệp

Sau kỳ nghỉ Tết nguyên đán, các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trở lại sản xuất, kinh doanh. Do vậy, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 3 ước tăng 24,48% so với tháng trước. Tính chung quý I, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng 3,82% so cùng kỳ; trong đó tăng cao nhất là ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt (tăng 13,52%); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 12,07%) và cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải (tăng 4,24%). Trong khi đó, ngành công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm sâu (giảm 20,17%) do một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm và phải tạm ngừng sản xuất. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế tháng 3 ước đạt 409,7 tỷ đồng; lũy kế quý I ước đạt 1.119,3 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ. Các sản phẩm công nghiệp có sản lượng trong quý tăng cao so với cùng kỳ gồm: ván ép (tăng 23,9%), bột giấy (tăng 40,5%), điện sản xuất (tăng 12,0%), điện thương phẩm (tăng 27,8%)... Các sản phẩm có sản lượng giảm gồm quặng sắt, sản phẩm in, bê tông tươi...

4. Về giao thông, xây dựng

a) Về giao thông: Tập trung xây dựng Kế hoạch đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông giai đoạn 2021-2025. Tổ chức khánh thành cầu Thượng Tân, huyện Bắc Mê. Tiếp tục thực hiện tốt công tác duy tu bảo dưỡng thường xuyên trên các tuyến đường; đặc biệt là đảm bảo giao thông an toàn, thông suốt phục vụ nhu cầu đi lại cho nhân dân trên địa bàn tỉnh dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán với 06 tuyến Quốc lộ dài 420,5km, 06 tuyến đường tỉnh dài 341km, 05 tuyến đường huyện dài 94,5km Đẩy mạnh đăng kiểm xe cơ giới, đã kiểm định 4.533 xe, trong đó có 644 xe không đạt tiêu chuẩn (chiếm 14,2%). Tăng cường tuần tra, kiểm soát xử lý các xe vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông. Triển khai 10 cuộc kiểm tra trách nhiệm bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông kết hợp kiểm soát tải trọng xe (kiểm tra 22 lượt phương tiện vận tải hành khách, 165 lượt phương tiện vận chuyển hàng hóa); 05 cuộc kiểm tra đảm bảo trật tự an toàn giao thông tại Bến xe khách (kiểm tra 627 lượt phương tiện vận tải hành khách, 31 lượt phương tiện vận chuyển hành hóa); 03 cuộc kiểm tra trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa trên địa bàn các huyện, thành phố (kiểm tra 03 nhà nổi, 08 bến khách ngang sông, 94 phương tiện, 93 người điểu khiển phương tiện). Duy trì kiểm tra tải trọng xe của Trạm kiểm tra lưu động số 20 tỉnh Hà Giang, đã kiểm tra 134 lượt phương tiện, có 10 phương tiện vi phạm về tải trọng.

b) Về xây dựng: Công tác thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công - dự toán đảm bảo chất lượng và hiệu quả đối với 34 hồ sơ. Kịp thời ban hành Quyết định quy định định mức vật liệu xây dựng đặc thù để sản xuất bê tông, vữa sử dụng cát nghiền thay thế cát tự nhiên trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Kiểm tra công tác nghiệm thu đưa 08 công trình vào sử dụng. Kiểm tra, xác minh việc chậm lập hồ sơ quyết toán dự án xây dựng hoàn thành đối với một số công trình trên địa bàn tỉnh; ban hành 01 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tiếp tục rà soát, kiểm tra năng lực, trình độ chuyên môn đội ngũ lãnh đạo của các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các huyện, thành phố. Tổ chức xét chứng chỉ hành nghề xây dựng cho 106 cá nhân và 09 tổ chức.

5. Về tài chính, tín dụng và đầu tư

a) Về thu, chi ngân sách nhà nước

Công tác quản lý thu, khai thác các nguồn thu được tập trung thực hiện với các hoạt động: Thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị và dự báo số khả năng nộp NSNN trong kỳ; tăng cường đánh giá lại nguồn thu, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu, các nguồn thu không ổn định, làm rõ khoản thu sắc thuế còn thất thu, các nguồn thu có tiềm năng (Như: phí bảo vệ môi trường, lệ phí trước bạ...). Số thu NSNN trên địa bàn tháng 3 đạt 137,5 tỷ đồng; lũy kế quý I đạt 425,5 tỷ đồng, đạt 15,8% kế hoạch tỉnh giao, đạt 22,8% kế hoạch trung ương giao. Theo sắc thuế, có một số khoản thu đạt trên mức bình quân chung và tăng so với cùng kỳ gồm: thu quốc doanh trung ương (đạt 27,9%, tăng 19,5%); thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh (đạt 21,7%, tăng 7,6%); thuế bảo vệ môi trường (đạt 21,3%, tăng 30,9%). Một số khoản thu đạt thấp so với dự toán như thu tiền sử dụng đất (đạt 4,4%), thu cấp quyền khai thác khoáng sản (đạt 4,8%)... Theo địa bàn, có 3 huyện có số thu nộp trên mức bình quân chung của tỉnh gồm: huyện Xín Mần (đạt 47,4%, tăng 136%), huyện Đồng Văn (đạt 24,9%, tăng 43,2%), huyện Vị Xuyên (đạt 21,7%, tăng 6,2%). Một số huyện có số thu đạt thấp như Mèo Vạc (8,6%), Quản Bạ (11,5%)...

Công tác quản lý chi ngân sách nhà nước đảm bảo chặt chẽ, đúng tiêu chuẩn, định mức. Chi ngân sách địa phương quý I ước đạt 3.085,4 tỷ đồng, đạt 23,8% kế hoạch; trong đó: chi đầu tư phát triển 1.124 tỷ đồng; chi thường xuyên 1.902,1 tỷ đồng...

b) Về hoạt động tín dụng: Tiếp tục triển khai các giải pháp điều hành theo hướng tăng trưởng tín dụng đi đôi nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh. Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn ước đạt 25.613 tỷ đồng. Trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 13.882 tỷ đồng, tăng 2,8% so với thời điểm cuối năm 2020; doanh số huy động được trong quý đạt 29.581 tỷ đồng. Tổng dư nợ tín dụng ước đạt 23.857 tỷ đồng, tăng 0,4% so với cuối năm 2020; doanh số cho vay quý I đạt 5.137 tỷ đồng, chủ yếu là cho vay ngành sản xuất, phân phối điện nước (chiếm 25,9%), ngành thương mại và dịch vụ (chiếm 27,4%), ngành nông lâm nghiệp thủy sản (chiếm 17,3%). Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn ở mức 89,1 tỷ đồng, chiếm 0,37% tổng dư nợ. Ngoài ra, các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 tiếp tục được triển khai, đến nay đã hỗ trợ cho 32.505 khách hàng với dư nợ 7.698,1 tỷ đồng. Thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh, tổng số thẻ ATM đã phát hành là 91.022 thẻ, tăng 7.366 thẻ so với cuối năm 2020; số đơn vị trả lương qua tài khoản là 1.375 đơn vị với 41.410 tài khoản (tăng 03 đơn vị so với cuối năm 2020).

c) Về đầu tư

Tổng vốn đầu tư phát triển quý I ước đạt 1.953,7 tỷ đồng, trong đó: Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước quản lý thực hiện 703,8 tỷ đồng; vốn huy động khu vực ngoài nhà nước 1.249,9 tỷ đồng.

Lĩnh vực đầu tư công đã hoàn thành công tác phân bổ nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương và nguồn vốn ngân sách Trung ương năm 2021. Các chủ đầu tư tiếp tục triển khai các thủ tục, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn năm 2021. Tỷ lệ giải ngân các nguồn vốn đến ngày 30/3/2021 đạt 24,73% kế hoạch (không bao gồm nguồn vốn ODA). Trong đó: Nguồn vốn đầu tư ngân sách địa phương 315,386 tỷ đồng, đạt 27,6% kế hoạch; nguồn vốn ngân sách Trung ương 269,357 tỷ đồng, đạt 26% kế hoạch; vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư 38,854 tỷ đồng, đạt 20,8% kế hoạch... Về chủ đầu tư, có 03 huyện có khối lượng giải ngân đạt trên 40% gồm Quản Bạ, Bắc Quang, Hoàng Su Phì; có 03 huyện có khối lượng giải ngân đạt trên 30% đến dưới 40% gồm Vị Xuyên, Quang Bình, Yên Minh. Tổ chức 03 tổ công tác tiến hành kiểm tra, rà soát, đánh giá hiệu quả đầu tư các công trình xây dựng cơ bản được đầu tư xây dựng từ NSNN trên địa bàn tỉnh (theo Quyết định số 168/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 của UBND tỉnh). Ban hành Kế hoạch về đẩy mạnh thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021, trong đó thống nhất lộ trình giải ngân chung toàn tỉnh như sau: (1) Đến ngày 31/3/2021, tỷ lệ giải ngân tối thiểu đạt 20%; (2) Đến ngày 30/6/2021, tỷ lệ giải ngân tối thiểu đạt 50%; (3) Đến ngày 30/9/2021, tỷ lệ giải ngân tối thiểu đạt 75%; (4) Đến ngày 31/12/2021, tỷ lệ giải ngân đạt 100%.

 Đối với thu hút đầu tư ngoài ngân sách đã phối hợp Tập đoàn FLC tổ chức khởi công dự án Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng FLC Hà Giang. Hỗ trợ 09 doanh nghiệp khảo sát, nghiên cứu đầu tư dự án về chế biến nông lâm sản, du lịch, phát triển dược liệu. Trong quý thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 03 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư là 55,6 tỷ đồng, cấp điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư cho 07 dự án. Triển khai rà soát, đánh giá 308 dự án đầu tư ngoài NSNN sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư/quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh.

6. Hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế, phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới

a) Phát triển Khu công nghiệp Bình Vàng: Tổng số có 18 dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng mức vốn đăng ký là 3.603,08 tỷ đồng. Trong đó: có 09 dự án đang hoạt động, 02 dự án đang đầu tư xây dựng, 03 dự án ngừng đầu tư và ngừng hoạt động, 04 dự án đang chuẩn bị đầu tư.

b) Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy: Tổng số có 43 dự án với tổng mức vốn đăng ký đầu tư là 2.869,7 tỷ đồng. Trong đó: có 31 dự án đã đầu tư, đi vào hoạt động, 04 dự án đang thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng, 05 dự án đang chuẩn bị đầu tư, 03 dự án đang ngừng đầu tư. Thực hiện tốt công tác quản lý hạ tầng khu kinh tế; đảm bảo công tác vệ sinh môi trường, quản lý khai thác kết cấu hạ tầng, hệ thống xử lý nước thải. Duy trì hoạt động hệ thống cấp số tự động cho các phương tiện vận tải tham gia xuất khẩu, đảm bảo phục vụ tốt hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu.

c) Phát triển đô thị: Tổ chức thẩm định Chương trình phát triển đô thị thị trấn Vị Xuyên, huyện Vị Xuyên; thị trấn Yên Minh, huyện Yên Minh; thị trấn Mèo Vạc, huyện Mèo Vạc. Triển khai kế hoạch phân loại đô thị giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn tỉnh.

d) Chương trình xây dựng nông thôn mới: Tập trung rà soát, xây dựng kế hoạch thực hiện đối với 08 xã đăng ký đạt chuẩn năm 2021, đến nay đã có 3/4 huyện với 07/8 xã ban hành kế hoạch chi tiết (Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên). Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện Đề án xây dựng huyện Bắc Quang, Quang Bình đạt chuẩn huyện NTM giai đoạn 2021-2025. Công tác tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới được tăng cường; tuyên truyền vận động kịch nói quần chúng được 152 buổi với 10.676 lượt người tham gia; chiếu phim lưu động 48 buổi với 5.778 lượt người xem; tuyên truyền miệng được 1.664 buổi với 120.879 lượt người nghe; phát hành 311 tin phóng sự, thời sự; phổ biến văn bản 223 lượt; 260 tin báo chí; tổ chức ra quân xây dựng nông thôn mới được 387 lượt với 29.955 người tham gia. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng nông thôn với làm mới 8,53 km đường bê tông các loại, bó láng nền nhà 224 hộ, xây dựng 468 công trình nhà tắm, cứng hóa và di dời chuồng trại 215 công trình, xây dựng 177 bể nước. Nhân dân hiến 80.521 m2 đất; đóng góp 25.601 ngày công lao động. Kết quả chung sức xây dựng nông thôn mới, đã quyên góp, hỗ trợ trên 2,4 tỷ đồng.

7. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Ban hành Kế hoạch đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp, hợp tác xã tỉnh Hà Giang đến năm 2025; Đề án khung nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen cấp tỉnh. Tổ chức kiện toàn Hội đồng khoa học cấp tỉnh. Tổ chức nghiệm thu 06 đề tài; kiểm tra tiến độ 06 đề tài, dự án. Tiếp tục triển khai các nội dung dự án sở hữu trí tuệ “Quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý “Hà Giang” cho sản phẩm cam sành của tỉnh Hà Giang”. Thẩm định về công nghệ cho 08 dự án đầu tư. Hỗ trợ 12 doanh nghiệp, hợp tác xã in 4,5 triệu tem truy xuất nguồn gốc bằng chất liệu Decal vỡ cho sảm phẩm cam tiêu thụ tại các siêu thị, điểm bán hàng. Nghiệm thu cấp cơ sở đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và phát triển các loài dược liệu trong danh mục ưu tiên của tỉnh Hà Giang”. Triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ “Xây dựng mô hình chăn nuôi gà xương đen tại xã Tả Lủng, huyện Đồng Văn”. Thực hiện kiểm định 573 phương tiện đo và cấp giấy chứng nhận cho 566 phương tiện đo đạt yêu cầu kỹ thuật về đo lường, đạt 98,8% số phương tiện được đo lường kiểm định.

8. Cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển các thành phần kinh tế

a) Cải thiện môi trường kinh doanh: Triển khai Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp quốc gia năm 2021, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 67/KH-UBND giao nhiệm vụ cụ thể cho các ngành, địa phương khắc phục các hạn chế, yếu kém, đồng thời có giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Ban hành kế hoạch khảo sát, đánh giá năng lực điều hành của các sở, ban, ngành và địa phương trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2021.

b) Phát triển các thành phần kinh tế: Ban hành Quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp loại đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước năm 2021 trên địa bàn tỉnh. Trong quý, nhiều doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, một số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể do không tiêu thụ được sản phẩm, không có lao động, kinh doanh không hiệu quả. Tình hình đăng ký doanh nghiệp giảm sút về số lượng doanh nghiệp thành lập mới, có 27 doanh nghiệp và 14 đơn vị trực thuộc thực hiện cấp mới đăng ký kinh doanh, có 05 doanh nghiệp và 02 đơn vị trực thuộc giải thể. Số lượng doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh còn ở mức cao với 52 doanh nghiệp và 10 đơn vị trực thuộc. Trong khi chỉ có 50 doanh nghiệp và 03 đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại. Điều này phản ánh tác động lâu dài của dịch bệnh Covid-19 đối với sự phục hồi của các doanh nghiệp.

c) Các hoạt động khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo được duy trì tốt; đã thực hiện hỗ trợ Dự án chế biến các sản phẩm từ cam sành của Công ty cổ phần Cam Ta đạt top 20 dự án xuất sắc của Cuộc thi khởi nghiệp quốc gia năm 2020; hỗ trợ 03 khởi nghiệp viên tìm hiểu các cơ chế, chính sách của tỉnh đối với sản xuất chè và các sản phẩm nông nghiệp sạch tại Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp tỉnh. Tư vấn trình tự thủ tục đăng kí nhãn hiệu cho 01 đơn vị. Thường xuyên chia sẻ các cơ chế, chính sách mới về hỗ trợ khởi nghiệp trên nhóm Cộng đồng khởi nghiệp với 1.057 lượt thành viên tham gia.

II. Lĩnh vực văn hóa - xã hội

1. Công tác hỗ trợ xây dựng nhà ở cho cựu chiến binh nghèo, gia đình chính sách, hộ nghèo khó khăn về nhà ở: Tổ chức Lễ phát động Chương trình giai đoạn II với sự tham gia, ủng hộ của đồng chí Trương Tấn Sang, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổng số tiền ủng hộ và cam kết ủng hộ Chương trình tại Lễ phát động là trên 59 tỷ đồng. Lũy kế tổng kinh phí các đơn vị, cá nhân đã hỗ trợ cho chương trình đến ngày 20/3/2021 là 262.995 triệu đồng. Toàn tỉnh đã có 3.812 hộ gia đình đã triển khai xây dựng nhà ở,có 3.765 hộ hoàn thành; riêng trong quý I đã triển khai và hoàn thành trên 400 nhà. Công tác tuyên truyền mục tiêu, ý nghĩa chương trình và vận động sự ủng hộ của đông đảo người dân được làm tốt; đã xây dựng được 42 phóng sự và 71 tin phát trên sóng Đài phát thanh truyền hình và trên 50 tin, bài ảnh đăng trên Báo Hà Giang.

2. Về giáo dục và đào tạo: Đã kịp thời quyết định cho học sinh, sinh viên nghỉ học phòng chống dịch bệnh Covid-19 từ ngày 01/02/2021 và trở lại trường học từ ngày 22/02/2021 (riêng các cơ sở giáo dục tại huyện Xín Mần đi học trở lại từ ngày 01/3/2021). Các địa phương và các cơ sở giáo dục đã thực hiện tốt việc huy động học sinh trở lại trường và duy trì sĩ số sau kì nghỉ phòng chống dịch và nghỉ Tết Nguyên đán với tỷ lệ ổn định và đạt trên 98%. Tập trung xây dựng Đề án chuyển học sinh tiểu học từ điểm trường về học tại trường chính giai đoạn 2020-2021; Đề án thành lập trường PTDT nội trú THCS-THPT huyện Đồng Văn, Xín Mần; kế hoạch phân luồng, tuyển sinh vào các lớp đầu cấp trên địa bàn tỉnh, năm học 2021-2022; kế hoạch Đào tạo giáo viên theo địa chỉ sử dụng dạy môn Tin học, tiếng Anh, Nghệ thuật để thực hiện chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới giai đoạn 2020-2026. Tổ chức tốt các kỳ thi: Tuyển sinh bổ sung vào trường THPT Chuyên năm học 2020-2021; Chọn học sinh giỏi lớp 9 năm học 2020-2021; Hội thi giáo viên dạy giỏi THCS cấp tỉnh lần thứ XVIII. Hoàn thiện hồ sơ trình Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tỉnh Hà Giang. Ban hành Kế hoạch hoạt động Quỹ khuyến học – Khuyến tài tỉnh Hà Giang năm 2021. Tổ chức đoàn đưa học sinh Trung học tham gia cuộc thi Khoa học – Kỹ thuật cấp quốc gia tại Huế. Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trên địa bàn tỉnh theo chuẩn hiệu trưởng và chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non với 1.701 cán bộ và giáo viên tham gia. Tổ chức chọn sách giáo khoa lớp 2 và lớp 6 trong chương trình đổi mới sách giáo khoa THPT. Làm việc và ký kết biên bản ghi nhớ với Đại học Thái Nguyên về chủ trương thành lập phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang.

3. Về y tế: Toàn ngành y tế đã tập trung làm tốt công tác phòng, chống dịch Covid -19. Công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được tăng cường. Thực hiện tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin cho trẻ dưới 1 tuổi với 2.244 trẻ, đạt 13,8% kế hoạch. Mạng lưới khám chữa bệnh các tuyến được củng cố, ổn định và phát triển; toàn tỉnh hiện có 10,7 bác sĩ/1 vạn dân; 1,05 dược sỹ đại học/1 vạn dân; bình quân 5,9 cán bộ/1 trạm y tế xã; có 193/193 xã có bác sỹ công tác (gồm thường trú 141; luân phiên 52). Tổ chức khám cho 220.664 lượt người (khám tại bệnh viện và phòng khám khu vực 133.584; khám tại xã 87.080).

Công tác truyền thông an toàn thực phẩm được đẩy mạnh; tổ chức 527 buổi/10.314 lượt người nghe; phát thanh trên loa đài xã, phường, thị trấn, các tổ thôn bản 1.662 buổi; tuyên truyền trên Đài Phát thanh - Truyền hình 89 lần; phổ biến kiến thức cho người tiêu dùng 651 buổi/50.993 lượt người nghe; tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm tại 1.771 cơ sở; số cơ sở đạt là 1.604 (tỷ lệ 92,1%), đã nhắc nhở 30 cơ sở, xử lý vi phạm hành chính 06 cơ sở.

4. Về hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin và truyền thông

        Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng. Tổ chức khảo sát thực địa và cắm bổ sung mốc giới danh lam thắng cảnh Mã Pì Lèng, huyện Mèo Vạc; hoàn thiện hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể “Chợ Phong lưu Khâu Vai” trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định. Các hoạt động văn hóa, thể thao quần chúng được quan tâm, chú trọng và chuẩn bị tốt điều kiện tổ chức Giải Khiêu vũ thể thao tỉnh Hà Giang, Giải Quần vợt cúp các câu lạc bộ tỉnh Hà Giang mở rộng, Giải vô địch bóng chuyền tỉnh Hà Giang năm 2021. Tổ chức lồng ghép các hoạt động thể dục thể thao kỷ niệm 75 năm ngày Thể thao Việt Nam 27/3/1946 – 27/3/2021 và ngày Chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2021.

Đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt phục vụ nhân dân dịp Tết Nguyên đán; thực hiện tốt cung ứng các dịch vụ bưu chính trong thời điểm dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Tăng cường thông tin, tuyên truyền về công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19, hoạt động vui Xuân, đón Tết và các sự kiện quan trọng của Tỉnh, của đất nước. Triển khai công tác thông tin truyền thông trên hệ thống truyền thanh Internet cơ sở với 73 bản tin, truyền thông trên mạng xã hội với 42 bài viết, video về Đại hội XIII của Đảng và các ứng dụng hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19 và sử dụng ứng dụng Bluezone; An toàn giao thông; về bầu cử đại biểu quốc hội và HĐND các cấp, cấp căn cước công dân.

5. Công tác giáo dục nghề nghiệp, lao động, việc làm

Về công tác giáo dục nghề nghiệp: Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức Hội giảng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp cấp tỉnh lần thứ nhất năm 2021. Thực hiện rà soát nhu cầu đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn 2021-2025, kết quả: có 17.360 người đăng ký nhu cầu. Duy trì đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp cho 1.689 người; tuyển mới giáo dục nghề nghiệp với 438 học viên hệ sơ cấp và dưới 3 tháng.

Về công tác lao động việc làm: Tổ chức 26 Hội nghị tư vấn giới thiệu việc làm tại các xã trên địa bàn huyện Mèo Vạc, Xín Mần, Quản Bạ và trường THPT Lê Hồng Phong - TP Hà Giang thu hút  3.102 người tham gia, đã giới thiệu việc làm thành công cho 290 người (trong đó có 03 người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan). Tiếp nhận 259 hồ sơ giải quyết chế độ chính sách trợ cấp thất nghiệp cho người lao động; ban hành quyết định trợ cấp thấp nghiệp cho 307 người.  Thực hiện cho vay hỗ trợ tạo việc làm với tổng số tiền 27 tỷ đồng. Trong quý đã giải quyết việc làm cho 5.387 lao động, đạt 31,7% kế hoạch. Chủ động liên hệ với các tỉnh, thành phố có lao động là người Hà Giang đến làm việc, tạo điều kiện cho lao động ở lại dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu để đảm bảo công tác phòng chống dịch bệnh.

6. Công tác cải cách hành chính

Hoàn thành đánh giá và công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2020 của các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ban hành 05 quyết định công bố thủ tục hành chính tái cấu trúc quy trình đối với 294 thủ tục. Trong quý, toàn tỉnh tiếp nhận và trả kết quả 36.175 hồ sơ; số hồ sơ phải giải quyết xong trong kỳ là 30.183 hồ sơ (trong đó đã giải quyết sớm hạn 18.288 hồ sơ, chiếm 60,59%; đúng hạn 7.584 hồ sơ, chiếm 25,13%; quá hạn 1.637 hồ sơ, chiếm 5,42%); số hồ sơ đang giải quyết nhưng đã quá hạn 2.674 hồ sơ, đang giải quyết trong hạn 5.992 hồ sơ. Tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả trực tuyến 985 hồ sơ. Một số đơn vị có số lượng hồ sơ giải quyết quá hạn chiếm tỷ lệ cao gồm huyện Yên Minh, Mèo Vạc, Xín Mần, Vị Xuyên, Quản Bạ, Bắc Quang và thành phố Hà Giang.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Đề án, sắp xếp các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện theo quy định tại Nghị định số 107/2020/NĐ-CP và số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ. Thực hiện chuyển ngạch, bổ nhiệm ngạch và xếp lương cho công chức qua kết quả thi năm 2019. Ban hành quyết định tinh giản biên chế cho 120 trường hợp đủ tiêu chuẩn. Phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Hà Giang năm 2021.

Nâng cấp Trung tâm tích hợp dữ liệu của Tỉnh; hoàn thành việc chuyển hệ thống một cửa điện tử, dịch vụ công trực tuyến sang mạng truyền số liệu chuyên dùng cấp II, đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, cải thiện tốc độ truy cập các hệ thống thông tin dùng chung của Tỉnh. Các cơ quan, đơn vị tăng cường ứng dụng chữ ký số chuyên dùng để ký, gửi/nhận văn bản điện tử trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành công việc (Vnptioffice) nhưng mức độ sử dụng chưa đồng đều. Tổng số chứng thư số chuyên dùng khối cơ quan hành chính nhà nước là 4.499, đạt tỷ lệ 100% lãnh đạo có thẩm quyền ký các cấp được trang bị chữ ký số chuyên dùng. Trong quý I, đối với cấp tỉnh có 08/20 đơn vị có tỷ lệ sử dụng chữ ký số cá nhân đạt trên 80%, 05/20 đơn vị đạt tỷ lệ từ 50% đến dưới 80%, 07/20 đơn vị có tỷ lệ dưới 50%. Đối với cấp huyện, huyện Xín Mần có tỷ lệ sử dụng chữ ký số cá nhân đạt 102%, các huyện/thành phố còn lại đều đạt dưới 51%.