Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG THÁNG 4/2021

 

 

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG THÁNG 4/2021

1. Lĩnh vực nông lâm nghiệp

a) Tiến độ triển khai Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ, tạo sinh kế cho người dân, giảm nghèo bền vững và Đề án phát triển bền vững cây Cam Sành:

Công tác tuyên truyền, triển khai Nghị quyết, Đề án được tăng cường, trong tháng đã tổ chức 1.065 buổi tuyên truyền cho trên 79.570 lượt người; tập huấn được 91 buổi cho trên 4.550 người. Tổng số hộ đã thực hiện cải tạo vườn tạp đến nay là 385 hộ (vượt 29 hộ so với kế hoạch của tỉnh), trong đó có 164 hộ nghèo, 221 hộ cận nghèo. Tổng diện tích vườn tạp đã thực hiện cải tạo là 438.586 m2 (bao gồm: 338.909m2  vườn được cải tạo trồng cây ăn quả; 68.747m2 vườn được cải tạo trồng các loại rau, đậu, lạc; 13.892 m2 vườn được cải tạo để xây dựng chuồng trại chăn nuôi; 17.038 m2 ao được cải tạo để chăn nuôi thủy sản). Tính đến ngày 19/4/2021, đã thẩm định cho 176 hộ, có 165 hộ đủ điều kiện vay vốn, đã giải ngân được 89 hộ với số tiền 2.660 triệu đồng, đạt 25,8% kế hoạch. Kết quả huy động nguồn lực xã hội hóa hỗ trợ thực hiện đề tài đến nay là 523 triệu đồng; số cây giống được hỗ trợ là 7.390 cây (chủ yếu là cây ăn quả); số ngày công lao động đã hỗ trợ là 8.655 công; ngành nông nghiệp hỗ trợ 5.000 con gà giống tương đương 150 triệu đồng. Ngoài ra, thực hiện cải tạo vườn tạp phát triển kinh tế vườn hộ đối với các hộ không thuộc đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đến nay có 244 hộ triển khai xây dựng vườn mẫu, diện tích vườn đã cải tạo là 558.553 m2; số giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp... đã hỗ trợ (quy ra kinh phí) là 533 triệu đồng; số ngày công hỗ trợ là 5.031 công. Tổ chức thẩm định cho 21 tổ chức, cá nhân đăng ký vay vốn ban đầu thực hiện phát triển bền vững cây Cam Sành.

b) Về trồng trọt

Nhân dân tiếp tục gieo trồng và chăm sóc các loại cây hàng năm vụ Xuân. Diện tích lúa Xuân toàn tỉnh đã cấy được 9.322 ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Cây ngô diện tích đã trồng 39.525 ha, các huyện vùng cao đang tiếp tục gieo ngô nương theo lịch khung thời vụ đến hết ngày 5/5. Cây ngô sinh khối đã trồng 229,2 ha, tăng 2,1% so với kế hoạch đăng ký. Cây đậu tương đã trồng 4.918,4 ha; cây lạc 5.881,6 ha; rau, đậu các loại 5.764,4 ha... cơ bản đảm bảo tiến độ và tương đương so cùng kỳ năm trước. Các cây trồng sinh trưởng và phát triển khá tốt. Tuy nhiên từ đầu tháng thời tiết có độ ẩm cao đã tạo điều kiện cho một số loại sâu bệnh hại xuất hiện trên cây lúa, ngô với mật độ thấp, các ngành chức năng đã kịp thời hướng dẫn nhân dân phun thuốc phòng trừ, không để lan rộng.

Triển khai thực hiện cánh đồng mẫu vụ Xuân năm 2021: đối với cây Lúa đã thực hiện 96 cánh đồng tương đương 582,6 ha; cây ngô 69 cánh đồng với diện tích 771,2 ha; cây lạc 11 cánh đồng với diện tích 115 ha. Diện tích chuyển đổi đất trồng lúa không chủ động được nước tưới sang trồng các loại cây khác có hiệu quả kinh tế cao hơn là 31 ha (Mèo Vạc 20 ha; Hoàng Su Phì 2,2 ha; Bắc Quang 9,69 ha).

c) Về chăn nuôi: Công tác khử trùng tiêu độc và tiêm phòng vắc xin được tăng cường; trong tháng thực hiện phun 939 lít hoát chất và 4.325 kg vôi bột  khử trùng tiêu độc môi trường chăn nuôi cho 13.077 hộ, 35 chợ; tiêm phòng vắc xin gia súc được 8.639 lượt con, vắc xin gia cầm được 5.700 lượt (lũy kế từ đầu năm tiêm phòng được cho 263.902 con gia súc, 47.658 con gia cầm). Thực hiện chặt chẽ công tác kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y; đã thực hiện đươc 3.393 con gia súc, gia cầm (lũy kế từ đầu năm 9.159 con). Tiếp tục triển khai thụ tinh nhân tạo cho đàn trâu, bò; trong tháng đã thực hiên được 481 con, thành công 281 con (lũy kế từ đầu năm thực hiện thụ tinh cho 1.187 con, thành công 604 con).

d) Về lâm nghiệp: Các địa phương đang đã gieo ươm được 8.693 nghìn cây giống các loại. Trong tháng trồng rừng sản xuất tập trung được 778,4 ha; lũy kế từ đầu năm thực hiện được 1.534 ha (trồng rừng mới 563,3 ha, trồng rừng sau khai thác 970,7 ha). Kết quả khai thác gỗ trong tháng được 2.710,31 m3. Phát hiện 29 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, đã xử lý 27 vụ (gồm 06 vụ từ tháng trước chuyển sang), trong đó đã xử lý hình sự 01 vụ, xử lý hành chính 26 .

e) Về thủy sản: Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 4 ước đạt 97,5 tấn, lũy kế từ đầu năm đạt 731 tấn, tăng 2,55% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 10,5 tấn; lũy kế từ đầu năm ước đạt 43,6 tấn, tương đương so với cùng kỳ năm trước. Thời gian gần đây diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng do người dân đẩy mạnh đầu tư thâm canh và mở rộng diện tích nuôi trồng trên các lòng hồ thủy điện.

2. Lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch

a) Về thương mại, dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 4 ước đạt 960,9 tỷ đồng, tăng 5,61% so với tháng trước và tăng 78,87% so với cùng kỳ năm trước (nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ do tháng 4/2020 cả nước thực hiện giãn cách xã hội để phòng chống dịch Covid-19). Lũy kế đến hết tháng 4 năm 2021, tổng mức bán lẻ ước đạt 4.132,7 tỷ đồng tăng 23,18% so với cùng kỳ năm trước. Giá cả các loại hàng hóa được kiểm soát tốt; chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh tháng 4 giảm 0,24% so với tháng trước, tăng 0,97% so với cùng kỳ năm 2020. Chỉ số giá bình quân 4 tháng đầu năm giảm 0,58% so với cùng kỳ.

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong việc kinh doanh hàng hóa đến các cơ sở kinh doanh và người tiêu dùng được tăng cường; đã thực hiện 01 chuyên mục, viết 16 tin bài về hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm của lực lượng quản lý thị trường. Tổ chức tuyên truyền trên 150 lượt và vận động được 18 cơ sở kinh doanh ký cam kết tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh thương mại. Trong tháng 4 đã kiểm tra 132 vụ, xử lý vi phạm hành chính 83 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước 626,6 triệu đồng, tiêu hủy hàng hóa trị giá trên 156 triệu đồng.

Doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi tháng 4 ước đạt 44,7 tỷ đồng, tăng 5,11% so với tháng trước, gấp 2,6 lần so với tháng cùng kỳ năm trước (trong đó doanh thu vận tải hành khách 16,9 tỷ đồng; doanh thu vận tải hàng hoá 27 tỷ đồng; doanh thu kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 0,8 tỷ đồng). Lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 205,8 tỷ đồng, tăng 31,74% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng có 60 doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu (tăng 05 doanh nghiệp so với tháng trước); tổng số tờ khai xuất nhập khẩu 996 bộ (tăng 36,8% so với tháng trước), lũy kế từ đầu năm 3.388 tờ khai. Tổng trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 4 đạt 22,8 triệu USD, tăng 26% so với tháng trước, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 82,5 triệu USD, đạt 30,6% so với kế hoạch.

b) Về hoạt động du lịch: Tham gia Hội chợ ẩm thực tại Thành phố Hà Nội; chương trình du lịch “Qua miền di sản Việt Bắc” lần thứ XII tại Thái nguyên; tổ chức trưng bày, giới thiệu sản phẩm đặc trưng, triển lãm ảnh đẹp phục vụ chương trình Gala “Tinh Hoa Cực Bắc - Sắc Màu Hà Giang”. Trong tháng, lượng khách du lịch đến Hà Giang tăng khá cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước; đạt 158.123 lượt người, tăng 50,9% so với tháng trước, gấp 23 lần so với tháng cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 4 tháng đạt 510.746 lượt khách, đạt 30% kế hoạch.

3. Lĩnh vực sản xuất công nghiệp

Một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng sản xuất tăng khá so với cùng kỳ năm trước như: Ván ép, sản phẩm tết bện, sản phẩm in, cửa ra vào, điện thương phẩm... Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng 15,4% so với tháng trước và tăng 8,54% so với cùng kỳ; trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 6,14% so với tháng trước, tăng 11,66% so với cùng kỳ; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,58% so với tháng trước, tăng 54,22% so với cùng kỳ; Sản xuất và phân phối điện nước, khí đốt tăng 24,94% so với tháng trước, giảm 12,21% so với cùng kỳ; Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,32% so với tháng trước, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế tháng 4/2021 đạt 476,7 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 4/2021 ước đạt 1.592,6 tỷ đồng, tăng 11,81% so với cùng kỳ.

4. Lĩnh vực giao thông, xây dựng

a) Về giao thông: Tiếp tục thực hiện tốt công tác duy tu bảo dưỡng thường xuyên và đảm bảo giao thông trên các tuyến đường được giao quản lý đảm bảo cho các phương tiện đi lại êm thuận - an toàn - thông suốt. Đẩy mạnh đăng kiểm xe cơ giới, đã kiểm định 1.701 xe, trong đó có 226 xe không đạt tiêu chuẩn (chiếm 15,3%). Tăng cường tuần tra, kiểm soát xử lý các xe vi phạm, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông. Triển khai 02 cuộc kiểm tra trách nhiệm bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông kết hợp kiểm soát tải trọng xe (kiểm tra 37 lượt phương tiện vận chuyển hàng hóa); 03 cuộc kiểm tra đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

b) Về xây dựng: Tổ chức thẩm định kịp thời thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công, báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với các công trình, dự án. Thành lập đoàn kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về xây dựng đối với một số Chủ đầu tư trên địa bàn tỉnh Hà Giang; xử lý vi phạm hành chính đối với 01 chủ đầu tư về hành vi “không thông báo khởi công xây dựng công trình tới cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương theo quy định”.

5. Lĩnh vực tài chính, tín dụng và đầu tư

a) Về thu, chi ngân sách nhà nước

Thu NSNN trên địa bàn tháng 4 đạt 164,35 tỷ đồng; lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 589,825 tỷ đồng, đạt 21,8% kế hoạch tỉnh giao, đạt 31,6% kế hoạch trung ương giao. Theo sắc thuế, có một số khoản thu đạt trên mức bình quân chung và tăng so với cùng kỳ năm trước gồm: thu quốc doanh trung ương (đạt 34,7%, tăng 19,4%); thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh (đạt 27,1%, tăng 17,8%); thuế bảo vệ môi trường (đạt 29,3%, tăng 17,7%); lệ phí trước bạ (đạt 38,7%, tăng 8,2%). Một số khoản thu đạt thấp so với dự toán như thu tiền sử dụng đất (đạt 5%), thu cấp quyền khai thác khoáng sản (đạt 6,4%)... Theo địa bàn, có 4 huyện có số thu nộp trên mức bình quân chung của tỉnh gồm: huyện Xín Mần (đạt 59,1%), huyện Vị Xuyên (đạt 31,2%), huyện Hoàng Su Phì (đạt 35,4%), thành phố Hà Giang (đạt 36,7%). Một số huyện có số thu đạt thấp như Mèo Vạc (11,9%), Đồng Văn (14,6%), Quang Bình (16,7%)...

Chi ngân sách địa phương tháng 4 ước đạt 1.219,7 tỷ đồng, lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 4.305 tỷ đồng, đạt 30% kế hoạch; trong đó: chi đầu tư phát triển 799 tỷ đồng; chi thường xuyên 2.813,2 tỷ đồng...

b) Về hoạt động tín dụng: Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đến hết tháng 4 ước đạt 25.732 tỷ đồng. Trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 14.132 tỷ đồng, tăng 142 tỷ đồng so với tháng trước; doanh số huy động được trong tháng 4 đạt 10.458 tỷ đồng. Tổng dư nợ tín dụng ước đạt 24.328 tỷ đồng, tăng 362 tỷ đồng so với tháng trước, tăng 563 tỷ đồng so với cuối năm 2020; doanh số cho vay tháng 4 đạt 2.324 tỷ đồng. Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn ở mức 88,4 tỷ đồng, chiếm 0,36% tổng dư nợ. Ngoài ra, các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 tiếp tục được triển khai. Thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh, tổng số thẻ ATM đã phát hành là 295.864 thẻ; số đơn vị trả lương qua tài khoản là 1.390 đơn vị với 41.734 tài khoản.

c) Về đầu tư

Tập trung triển khai Kế hoạch số 90/KH-UBND về đẩy mạnh thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021. Tỷ lệ giải ngân các nguồn vốn đầu tư công đến ngày 20/4/2021 đạt 28,7% kế hoạch (không bao gồm nguồn vốn ODA); trong đó: Nguồn vốn đầu tư ngân sách địa phương 368,604 tỷ đồng, đạt 31,2% kế hoạch; nguồn vốn ngân sách Trung ương 292,042 tỷ đồng, đạt 28% kế hoạch; nguồn vốn kéo dài 2020 sang 2021 là 20,645 tỷ đồng, đạt 4,7% kế hoạch. Nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư giải ngân 52,781 tỷ đồng, đạt 14,5% kế hoạch...Các huyện có khối lượng giải ngân đạt trên 40% gồm Quản Bạ, Bắc Quang, Hoàng Su Phì; có 04 huyện có khối lượng giải ngân đạt trên 30% đến dưới 40% gồm Vị Xuyên, Quang Bình, Yên Minh, thành phố Hà Giang; các huyện còn lại đạt từ 13% đến 20%. Hoàn thành kiểm tra, rà soát, đánh giá hiệu quả đầu tư các công trình xây dựng cơ bản được đầu tư xây dựng từ NSNN trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 168/QĐ-UBND của UBND tỉnh.

Đối với thu hút đầu tư ngoài ngân sách: Hỗ trợ giải quyết đề xuất nghiên cứu, khảo sát đầu tư 04 dự án. Lựa chọn các doanh nghiệp tiêu biểu của tỉnh tham gia Diễn đàn Đầu tư phát triển Vùng Trung du và Miền núi Phía Bắc tầm nhìn 2020 -2030 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tại tỉnh Phú Thọ. Trong tháng thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 03 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư là 14 tỷ đồng, thông báo chấm dứt hoạt động 02 dự án; lũy kế từ đầu năm đến nay cấp mới cho 06 dự án với tổng vốn 69,6 tỷ đồng. Triển khai rà soát, đánh giá 309 dự án đầu tư ngoài NSNN (301 dự án có vốn đầu tư trong nước; 08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài) sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư/quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh (tính đến thời điểm 1/3/2021); kết quả: trong số 301 dự án có vốn đầu tư trong nước, có 150 dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động (82 dự án đảm bảo các thủ tục đầu tư, 68 dự án chưa đảm bảo thủ tục đầu tư), 100 dự án đang triển khai nhưng chậm tiến độ, 25 dự án đã dừng hoạt động, 10 dự án chưa thực hiện, 16 dự án vừa được chấp thuận chủ trương đầu tư/cấp Giấy CNĐKĐT, đang trong quá trình triển khai các thủ tục đầu tư; trong số 08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, có 04 dự án đang hoạt động, 04 dự án đã ngừng hoạt động.

6. Hoạt động của khu công nghiệp, khu kinh tế, xây dựng nông thôn mới

a) Khu công nghiệp Bình Vàng: Trong tháng có 01 dự án đầu tư mới; tổng số có 19 dự án đầu tư đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng mức vốn đăng ký là 3.610,08 tỷ đồng. Trong đó: có 08 dự án đang hoạt động, 03 dự án đang đầu tư xây dựng, 03 dự án ngừng đầu tư và ngừng hoạt động, 05 dự án đang chuẩn bị đầu tư.

b) Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy: Thực hiện thu hồi 01 dự án; tổng số có 42 dự án với tổng mức vốn đăng ký đầu tư là 2.858,85 tỷ đồng. Trong đó: có 22 dự án đã đầu tư, đi vào hoạt động; 14 dự án đầu tư nhưng chậm tiến độ; 02 dự án đang triển khai; 04 dự án đang tạm dừng hoạt động. Vận hành tốt hệ thống cấp số tự động cho các phương tiện vận tải tham gia xuất khẩu.

d) Chương trình xây dựng nông thôn mới: Phê duyệt dự toán kinh phí, kế hoạch lựa chọn nhà thầu, gói thầu và lựa chọn các đơn vị cung ứng để chuẩn bị tổ chức đầu thầu mua xi măng tập trung hỗ trợ cho các xã thực hiện tiêu chí giao thông. Triển khai lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của BCH Đảng bộ về Chương trình xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Công tác tuyên tuyền vận động xây dựng nông thôn mới được tăng cường; tổ chức ra quân xây dựng nông thôn mới 213 lượt với 11.645 người tham gia; 204 tin phóng sự, thời sự; 225 tin báo chí. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng nông thôn với làm mới 17,8 km đường bê tông các loại, bó láng nền nhà 103 hộ, xây dựng 127 công trình nhà tắm, cứng hóa và di dời chuồng trại 71 công trình, xây dựng 82 bể nước. Nhân dân hiến 91.156 m2 đất; đóng góp 26.389 ngày công lao động.

7. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Ban hành Kế hoạch đăng ký và phát triển quyền sở hữu công nghiệp tỉnh Hà Giang giai đoạn 2021-2025; Kế hoạch triển khai Chương trình hỗ trợ Doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa giai đoạn 2021-2025. Tiếp nhận dự án "Xây dựng hệ thống đường ống cấp nước Lùng Lú bằng hệ thống bơm năng lượng mặt trời". Tổ chức nghiệm thu 01 đề tài; thẩm định 03 đề tài; kiểm tra tiến độ 03 đề tài, dự án. Cập nhật và tạo 02 mã QR code cho sản phẩm trà xanh Việt Shan. Tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống cây sâm cau trên địa bàn tỉnh Hà Giang”; nhiệm vụ Xây dựng mô hình chăn nuôi gà xương đen tại xã Tả Lủng, huyện Đồng Văn”. Kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho 82 phương tiện đo các loại đạt yêu cầu kỹ thuật về đo lường, đạt 100% số phương tiện đo được kiểm định.

8. Cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển các thành phần kinh tế

Trong tháng có 16 doanh nghiệp và 08 đơn vị trực thuộc thực hiện cấp mới đăng ký kinh doanh; có 01 đơn vị trực thuộc giải thể. Có 05 doanh nghiệp và 02 đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại nhưng vẫn có 06 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh.

Tăng cường chia sẻ các cơ chế, chính sách mới về hỗ trợ khởi nghiệp và các ý tưởng khởi nghiệp trên nhóm Cộng đồng khởi nghiệp; tuyên truyền và thu hút được 02 khởi nghiệp viên tham gia Khóa tập huấn thúc đẩy kinh doanh trực tuyến cho doanh nghiệp với thời lượng 03 ngày do Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia tổ chức. Hướng dẫn 02 khởi nghiệp viên phương thức đăng ký đề án Lựa chọn hoàn thiện nhân rộng mô hình HTX kiểu mới hiệu quả tại các địa phương trên cả nước giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 3/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ.

Kết quả đánh giá chỉ số PCI năm 2020 của tỉnh đạt 61,16 điểm (giảm 1,46 điểm so với năm 2019), xếp thứ 61/63 tỉnh (giảm 01 bậc so với năm 2019). Mức giảm điểm chủ yếu đến các chỉ số thành phần như: tính minh bạch, đào tạo lao động, tiếp cận đất đai, cạnh tranh bình đẳng.