Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Tình hình KT - XH 6 tháng đầu năm 2020

Tình hình KT - XH 6 tháng đầu năm 2020

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP theo giá so sánh 2010) 6 tháng đầu năm ước đạt 5.943,9 tỷ đồng, tăng 0,43% so với cùng kỳ năm 2019 (thấp hơn mức tăng 5,03% của 6 tháng đầu năm 2019 và thấp hơn nhiều so với mục tiêu tăng trưởng 7,0% của cả năm). Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 1.651,7 tỷ đồng, tăng 2,47% so với cùng kỳ; khu vực công nghiệp – xây dựng ước đạt 1.298,6 tỷ đồng, giảm 3,38%; Khu vực dịch vụ ước đạt 2.703 tỷ đồng, tăng 1,38%; thuế và trợ cấp sản phẩm ước đạt 290 tỷ đồng, giảm 1,89%. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá thực tế ước đạt 10.707 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện ước đạt 4.648,7 tỷ đồng, giảm 20,41% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước 1.252 tỷ đồng, giảm 13,69%; vốn ngoài nhà nước 3.396,5 tỷ đồng, giảm 22,53%.

1. Lĩnh vực nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn

a) Sản xuất nông, lâm nghiệp

- Về trồng trọt: Trong 6 tháng đầu, các địa phương đã tập trung thu hoạch vụ Đông; gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch các loại cây hàng năm vụ Xuân. Diện tích lúa Xuân toàn tỉnh đã thu hoạch được 9.213,6 ha, đạt 100% diện tích; diện tích ngô đã thu hoạch được 20.192 ha, đạt 45,7% diện tích. Sơ bộ diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông - Xuân đạt 59.765 ha, tăng 3,09% bằng 1.790 ha so với cùng vụ năm trước (vụ Đông 11.891 ha; vụ Xuân đạt 47.874 ha). Tổng sản lượng lương thực có hạt ước 6 tháng đạt 12,37 vạn tấn, đạt 29,7% kế hoạch. Vụ Mùa được triển khai đảm bảo lịch thời vụ, tiến độ thực hiện đạt cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Một số xã vùng cao bắt đầu gieo mạ lúa Mùa sớm trên diện tích ruộng một vụ. Đến ngày 15/6/2020, diện tích cày ải được 13.000 ha, diện tích bừa 10.400 ha; Mạ mùa đã gieo được 430  tấn; Diện tích lúa ruộng đã cấy ước đạt 2.750 ha tập trung ở các huyện Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Yên Minh. Diện tích rau đậu các loại vụ Mùa đã trồng được trên 800 ha.

Các chính sách hỗ trợ sản xuất gắn với xây dựng cánh đồng mẫu và thực hiện đầu tư hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất hàng hóa tiếp tục được triển khai thực hiện, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Chương trình cánh đồng mẫu theo phương pháp “5 cùng” trên cây trồng chính là lúa, ngô, lạc được triển khai thực hiện với tổng diện tích thực hiện là 1.972,4 ha/232 cánh đồng trên địa bàn 07 huyện (Trong đó, Diện tích lúa: 594,4 ha; diện tích ngô 1.263,2 ha; diện tích lạc 112,8 ha). Trên cơ sở kết quả vụ Xuân năm trước, một số huyện triển khai mở rộng thâm canh toàn bộ diện tích lúa bằng các giống có chất lượng và năng suất tốt. Tập trung chuyển đổi trên 55,1 ha đất trồng lúa không chủ động nước tưới sang trồng các loại cây trồng khác. Tiếp tục triển khai dồn điền đổi thửa với tổng diện tích thực hiện (lũy kế) được 338,3 ha, kinh phí đã hỗ trợ thực hiện 3.419,6 triệu đồng; triển khai đầu tư gia trại rau, hoa ứng dụng công nghệ mới được 10,2 ha/40 nhà lưới. Các mô hình sản xuất điển hình được quan tâm phát triển. Kế hoạch chuyển đổi diện tích chè hữu cơ để chứng nhận và duy trì diện tích cam VietGAP, chè GAP gắn với phân vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến được tiếp tục triển khai có hiệu quả.

Về chăn nuôi: Tập trung thực hiện Đề án nửa triệu con đại gia súc và phát triển chăn nuôi theo quy mô gia trại, trang trại, sử dụng chủ yếu là các giống địa phương. Lũy kế toàn tỉnh phát triển được 412 gia trại, trang trại (31 trang trại; 381 gia trại). Ước 6 tháng tổng đàn trâu có 166.132 con, giảm 1,67% so cùng kỳ = 2.827 con; đàn bò 119.896 con, tăng 2,31% so cùng kỳ = 2.703 con; đàn lợn 575.362 con, tăng 1,59% so cùng kỳ = 9.005 con; đàn gia cầm 5,05 triệu con, tăng 4,99% so cùng kỳ = 240,2 nghìn con. Sản lượng thịt hơi các loại 28.540 tấn, tăng 4,61% so cùng kỳ. Công tác phòng chống rét cho gia súc được triển khai quyết liệt, trong vụ Đông năm 2019 – 2020 toàn tỉnh không có trâu bò chết do rét. Công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện tốt, cung ứng kịp thời hóa chất để xử lý các ổ dịch cũ không để phát sinh; đã tổ chức tiêm phòng được 386.395 liều vắc xin gia súc và 17.180 liều vắc xin gia cầm; thực hiện nghiêm công tác vệ sinh khử trùng ở các chợ, các phương tiện giao thông ra, vào tỉnh, các nơi chăn nuôi tập trung gia súc, gia cầm; đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc giết mổ, vận chuyển gia súc, gia cầm nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh vẫn xuất hiện rải rác ở diện hẹp như: Bệnh dịch tả, tụ huyết trùng trên đàn lợn tại 03 huyện, làm chết 79 con.

Về dịch tả lợn Châu Phi, tiếp tục tổ chức thực hiện các biện pháp bao vây, dập dịch, khống chế dịch. Đến ngày 27/02/2020, Tỉnh đã ban hành Quyết định công bố hết dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn; đồng thời, tiếp tục duy trì công tác tuần tra lưu động, chốt kiểm dịch tạm thời để ngăn chặn dịch quay trở lại. Lũy kế 02 năm 2019-2020, tổng số lợn chết và tiêu hủy từ khi phát sinh dịch tả lợn Châu Phi là 13.292 con, trọng lượng 544.992 tấn. Tổng số kinh phí hỗ trợ cho công tác phòng, chống dịch là trên 35.104 triệu đồng, trong đó đã chi trả 16.233,105 triệu đồng để hỗ trợ cho các hộ chăn nuôi có lợn buộc phải tiêu hủy. Đến ngày 18/6/2020, dịch tả lợn Châu Phi đã tái phát trên địa bàn 05 xã, huyện Vị Xuyên. Tổng số lợn chết và tiêu hủy là 71 con/05hộ/05 thôn. Trọng lượng tiêu hủy 2.266 kg. Trong đó: 57 con lợn thịt, trọng lượng 1.304 kg và 14 lợn giống, trọng lượng 962 kg. Ngay sau khi phát hiện dịch bệnh, các ngành các cấp đã tích cực triển khai các biện pháp bao vây, dập dịch, xử lý dứt điểm các ổ dịch, không để dịch bệnh lây lan ra diện rộng.

Về chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP): Đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình OCOP năm 2020. Thành lập Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh năm 2020. Thành lập Tổ công tác liên ngành hướng dẫn, tư vấn, giải quyết các thủ tục đưa sản phẩm tiêu biểu, sản phẩm OCOP vào các chuỗi siêu thị. Tổ chức đưa 05 HTX và 01 doanh nghiệp tham gia Phiên chợ nông sản, thực phẩm an toàn và đặc sản vùng miền tại Hà Nội để quảng bá các sản phẩm tham gia chương trình OCOP đã đạt sao và các sản phẩm tiêu biểu của tỉnh. Đẩy mạnh thực hiện công tác thông tin, truyền thông, giới thiệu quảng bá các sản phẩm OCOP trên các phương tiện thông tin đại chúng, Cổng thông tin điện tử của tỉnh; xây dựng banner tuyên truyền, quảng bá về các sản phẩm OCOP của tỉnh trên các trang thông tin điện tử của 11 huyện, thành phố và 193 xã, phường, thị trấn, và gắn link liên kết đến trang chuyên mục Quảng bá các sản phẩm OCOP (https://ocop.hagiang.gov.vn); duy trì chuyên mục “Mỗi vùng quê một sản phẩm” trên Báo Hà Giang và các chuyên mục “Kinh tế”, “Khuyến nông Hà Giang”, “Xóa đói giảm nghèo”, “Dân tộc và Phát triển”, “Xây dựng Nông thôn mới” trên sóng của Đài Phát thanh & Truyền hình tỉnh với nhiều tin bài, phóng sự giới thiệu các loại sản phẩm đặc trưng, thế mạnh của tỉnh. Phân bổ 9.400 triệu đồng để hỗ trợ tổ chức các Hội nghị tập huấn, tư vấn tuyên truyền, triển khai chu trình OCOP, Hội nghị tổ chức thi đánh giá, phân hạng sản phẩm cấp huyện và hỗ trợ hoạt động ban chỉ đạo cấp huyện.  Đến nay, các huyện, thành phố đã lựa chọn đăng ký 266 sản phẩm thực hiện năm 2020 của 12 doanh nghiệp, 97 Hợp tác xã, 03 tổ hợp tác, 27 hộ gia đình, chia theo 06 nhóm sản phẩm gồm: 197 sản phẩm thực phẩm; 25 sản phẩm đồ uống; 24 sản phẩm Thảo dược; 03 sản phẩm Vải và may mặc; 13 sản phẩm Lưu niệm - Nội thất - Trang trí; 04 sản phẩm Dịch vụ du lịch nông thôn.

Về lâm nghiệp: Công tác chuẩn bị giống, khảo sát đất để thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2020 đã được tập trung triển khai; đã gieo ươm được 5,53 triệu cây giống các loại. Tổng diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt 3.500 ha, giảm 5,66% so với cùng kỳ. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được tích cực triển khai thực hiện, đã tuyên truyền được 5.187 lượt người. Tuy nhiên, do thời tiết khô hanh, nắng nóng kéo dài trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy với tổng diện tích bị cháy là 11,7 ha. Công tác tuần tra, phát hiện vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng được tăng cường; đã phát hiện 107 vụ vi phạm Luật lâm nghiệp, so với cùng kỳ giảm 29 vụ, trong đó đã xử lý 91 vụ, tịch thu 40,2 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính 904,2 triệu đồng.

b) Chương trình xây dựng nông thôn mới

Chủ động ban hành sớm các kế hoạch về thực hiện chỉ tiêu tăng tiêu chí nông thôn mới, thực hiện 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới và phúc tra lại các xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh; ban hành quyết định phân bổ vốn hỗ trợ XDNTM và phân công các thành viên Ban chỉ đạo tỉnh phụ trách tiêu chí NTM theo từng nhóm xã. Đồng thời, phấn đấu công nhận thêm 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới tại huyện Mèo Vạc và Đồng Văn trong năm 2020. Các ngành đã tập trung triển khai các nhiệm vụ được phân công; đẩy mạnh triển khai thực hiện các Đề án, chương trình sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn và công tác tuyên truyền về XDNTM; đổi mới hình thức và nội dung giao ban XDNTM theo hướng lồng ghép giao ban với các chương trình trọng tâm thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; tổ chức đánh giá thực trạng phát triển kinh tế vườn hộ và triển khai xây dựng Đề án về cải tạo vườn tạp, xây dựng vườn mẫu trên địa bàn tỉnh năm 2020-2025. Tiếp tục thực hiện nâng cao chất lượng tiêu chí XDNTM của Thành phố Hà Giang và tiến hành các thủ tục, hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền xét công nhận Thành phố hoàn thành nhiệm vụ XDNTM năm 2019.

Trong 6 tháng đầu năm, đã làm được 166km đường bê tông các loại; bó láng nền nhà 980 hộ, xây dựng nhà tắm 1.191 công trình; cứng hó, di dời chuồng trại 579 công trình; xây 1.054 bể nước; kiên cố hóa kênh mương được 25 km; xây dựng 44 phòng học và 25 nhà văn hóa thôn; nhân dân đã hiến 177.416 m2 đất, đóng góp trên 86.769 ngày công lao động; mở mới đường đất, đá 39,5km; sửa chữa, nâng cấp, mở rộng đường 230km; kết quả chung sức xây dựng NTM được 2.613 triệu đồng; quyên góp, hỗ trợ xây dựng NTM được 4.325 triệu đồng. Tổng số tiêu chí đạt 2.201 tiêu chí, tăng 15 tiêu chí. Các tiêu chí đạt tỷ lệ cao trên 90% gồm: Tiêu chí số 1- Quy hoạch; Tiêu chí số 12 - Lao động có việc làm thường xuyên; Tiêu chí số 13 - Tổ chức sản xuất; Tiêu chí số 15 - Y tế; Tiêu chí số 18 - Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; Tiêu chí số 19 - Quốc phòng và an ninh.

2. Lĩnh vực công nghiệp

Tập trung rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016-2025, có xét đến 2035; tổ chức kiểm tra, rà soát việc chấp hành pháp luật đối với các dự án thủy điện và triển khai các giải pháp đảm bảo khả năng tiêu thoát lũ của thành phố Hà Giang trong mùa mưa lũ. Tăng cường công tác quản lý về vật liệu nổ công nghiệp trong dịp Tết Nguyên đán năm 2020. Tổ chức thực hiện Đề án khuyến công quốc gia và địa phương năm 2020 và xây dựng kế hoạch khuyến công địa phương giai đoạn 2021-2025. Thực hiện rà soát các cơ sở chế biến nông lâm sản, thực phẩm và chuẩn bị tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh năm 2020. Về sản xuất công nghiệp, trong 6 tháng đầu năm, một số doanh nghiệp thủy điện vẫn duy trì hoạt động nhưng chỉ đạt khoảng 70% công suất do thiếu nước; ngành công nghiệp khai thác chế biến khoáng sản gặp khó khăn về nguyên liệu đầu vào/ chưa tìm được đầu ra cho sản phẩm, khó khăn trong tuyển dụng lao động; ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản gặp khó khăn trong giải quyết hàng tồn kho và tìm kiếm đối tác tiêu thụ sản phẩm. Do đó, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá thực tế) ước đạt 2.551,2 tỷ đồng, giảm 2,6% so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 7,19% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,61%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước giảm 10,61%; Ngành công nghiệp khai khoáng có sự tăng nhẹ 0,16%.

3. Thương mại, dịch vụ và du lịch

a) Về thương mại, dịch vụ: Công tác xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, triển khai nhiều chương trình nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ, quảng bá và xúc tiến tiêu thụ các sản phẩm trên địa bàn tỉnh, như: Chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; Chương trình phát triển thương mại miền núi, vùng sâu, hải đảo; các phiên chợ đưa hàng Việt về huyện biên giới; đưa hàng hóa nông sản vào tiêu thụ trong các hệ thống, chuỗi siêu thị lớn (VinMart, BicC, Hapro…). Công tác kiểm soát hàng hóa được tăng cường, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá hàng hóa đột xuất (Riêng mặt hàng thịt lợn do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi nên giá cả có xu hướng tăng trong những tháng đầu năm). Công tác phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả được tăng cường và thực hiện tốt; đã thực hiện kiểm tra được 507 vụ, xử lý vi phạm hành chính 403 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước 1,4 tỷ đồng. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm ước đạt 4.986,7 tỷ đồng, giảm 5,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 4.037,3 tỷ đồng, giảm 0,74%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 614,3 tỷ đồng, giảm 26,24%; doanh thu dịch vụ khác đạt 335 tỷ đồng, giảm 12,02%. Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm tăng 5,35% so với cùng kỳ.  

- Về hoạt động xuất nhập khẩu, tích cực làm việc, trao đổi với phía đối đẳng Trung Quốc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa; tổ chức làm việc với Hội thương mại xuất nhập khẩu, nắm bắt, đánh giá hiệu quả hoạt động và giải quyết những khó khăn, vướng mắc của Hội; cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính… Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm, lực lượng chức năng hai bên cửa khẩu thắt chặt các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 dẫn đến gia tăng thời gian thông quan hàng hóa; có thời điểm phía bạn đã tạm dừng hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy. Do đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 6 tháng ước đạt 112,1 triệu USD, giảm 34,9% so với cùng kỳ, đạt 27,3% so với kế hoạch (trong đó: xuất khẩu đạt 77,8 triệu USD; nhập khẩu đạt 34,2 triệu USD). Tình hình buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới được kiểm soát, không có diễn biến phức tạp và không phát sinh điểm nóng về buôn lậu.

b) Về du lịch: Đã tạm hoãn, lùi thời gian tổ chức các sự kiện để phòng, chống dịch bệnh Covid – 19; kịp thời rà soát, nắm bắt thiệt hại của các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh trong ngành du lịch do đại dịch Covid-19; xây dựng kế hoạch phục hồi ngành du lịch, kế hoạch kích cầu du lịch Hà Giang những tháng cuối năm 2020 và năm 2021. Tham gia Hội nghị phát động Chương trình kích cầu du lịch nội địa tại thành phố Hồ Chí Minh; Hội nghị kích cầu du lịch 6 tỉnh khu vực Đông – Tây Bắc tại Hà Nội. Tổ chức đoàn khảo sát và Hội nghị kích cầu du lịch nội địa đến với Hà Giang. Triển khai công tác chuẩn bị các điều kiện tổ chức Hội nghị quốc tế chủ đề “Hợp tác vì sự phát triển bền vững các Công viên địa chất toàn cầu UNESCO”. Đến tháng 6, lượng khách du lịch đã tăng nhẹ. Tính chung 6 tháng đạt 258.779 lượt người, giảm 61% so với cùng kỳ, đạt 16% kế hoạch (Trong đó: khách quốc tế 32.987 lượt, khách nội địa 225.792 lượt); doanh thu du lịch đạt 385,6 tỷ đồng, giảm 44,5% so với cùng kỳ.

4. Giao thông, xây dựng

a) Về giao thông: Làm tốt công tác bảo trì đường bộ được giao quản lý bao gồm các tuyến quốc lộ, gồm: Quốc lộ 279, Quốc lộ 4C, Quốc lộ 34, Quốc lộ 4, Quốc lộ 280, đường Cột cờ Quốc gia Lũng Cú; các tuyến đường tỉnh và đường huyện; thường xuyên kiểm tra các tuyến đường vùng cao, vùng sâu; huy động trang thiết bị, phương tiện máy móc thi công, xử lý kịp thời các điểm sạt lở, tiềm ẩn tai nạn giao thông, đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông trên tuyến. Tổng giá trị khối lượng thực hiện đạt 101.892 triệu đồng. Duy trì hoạt động kiểm tra tải trọng xe lưu động bằng bộ cân xách tay (đã kiểm tra 619 lượt phương tiện, phát hiện 52 trường hợp vi phạm, đã xử phạt 0,6 triệu đồng) và hoạt động của Trạm kiểm tra tải trọng xe lưu động tại Km 29, Quốc lộ 34 (đã kiểm tra được 234 lượt phương tiện, phát hiện 02 trường hợp vi phạm về tải trọng, đã xử phạt 96 triệu đồng).

b) Về xây dựng: Công tác thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công - dự toán đảm bảo chất lượng và hiệu quả của dự án; đã thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế bản vẽ thi công xây dựng công trình 64 hồ sơ, thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật 42 hồ sơ. Kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng được 21 công trình. Hoàn thiện hồ sơ và thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đồ án Điều chỉnh Quy hoạch chung 04 đô thị - Trung tâm du lịch thuộc Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn và Quy hoạch chung đô thị Hà Giang, tỉnh Hà Giang đến năm 2035; hoàn thiện Quy hoạch chi tiết Khu trung tâm cửa khẩu Thanh Thủy và Quy hoạch chi tiết xây dựng cửa khẩu Săm Pun (Việt Nam) - Điền Bồng (Trung Quốc) giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn 2030. Kịp thời ban hành đơn giá nhân công tạm thời trong quản lý chi phí áp dụng trên địa bàn tỉnh và tiếp tục hoàn thiện các thủ tục, triển khai công tác xây dựng hệ thống đơn giá nhân công, đơn giá khảo sát, giá ca máy và thiết bị thi công, đơn giá xây dựng công trình tỉnh Hà Giang. Tăng cường công tác rà soát, nâng cao năng lực hoạt động cho các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh; đã tổ chức thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề cho 105 cá nhân và chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng cho 53 tổ chức. Tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong quản lý, sử dụng đất và hoạt động san, đào lấp đất trên địa bàn các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên, Xín Mần và thành phố Hà Giang.

5. Tài chính, tín dụng

a) Về thu, chi ngân sách nhà nước

Công tác thu ngân sách nhà nước đã có sự nỗ lực rất lớn; thường xuyên nắm bắt, phân tích, dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến thu NSNN; chủ động tháo gỡ vướng mắc, khó khăn liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; triển khai thực hiện kịp thời, đúng đối tượng việc gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất, miễn giảm thuế, phí, lệ phí theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP ngày 08/04/2020, Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ và Quyết định số 2371/QĐ-TCT ngày 18/12/2015 của Tổng cục Thuế; tập trung rà soát, đối chiếu, đôn đốc thực hiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và đơn giản hóa, công khai, minh bạch các thủ tục về thuế, hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế và hoạt động thông quan hàng hóa... Kết quả 6 tháng đầu năm: Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 8.683 tỷ đồng (NSTW hưởng 175 tỷ đồng, NSĐP hưởng 8.508 tỷ đồng), trong đó: Thu NSNN trên địa bàn đạt 980 tỷ đồng = 51,7% kế hoạch TW giao và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2019; tỷ lệ tăng thu và số thực hiện thu so với cùng kỳ cao nhất trong giai đoạn 2017-2020, tỷ lệ hoàn thành so với chỉ tiêu TW giao ở Top đầu các tỉnh trong khu vực.

          Công tác chi ngân sách được thực hiện theo đúng quy định. Dự toán chi NSĐP được quản lý, sử dụng chặt chẽ, tiết kiệm, đúng chính sách, chế độ và định mức chi; tiết kiệm triệt để các khoản chi ngay từ khi phân bổ và trong quá trình thực hiện. Đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức và các chính sách an sinh xã hội đặc biệt các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và người có công. Chủ động linh hoạt cân đối nguồn kinh phí đảm bảo nhiệm vụ phát sinh so với dự toán đầu năm như: tổ chức Đại hội Đảng các cấp; kịp thời cấp kinh phí để các huyện, thành phố chi trả chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn theo Nghị quyết số 42/NQ-CP của Chính phủ, đảm bảo hỗ trợ ổn định đời sống của người dân do ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 số tiền 311 tỷ đồng. Các ngành các cấp thực hiện cắt giảm 70% kinh phí hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước còn lại của các cơ quan, đơn vị những tháng cuối năm theo Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ. Kết quả 6 tháng đầu năm: Tổng chi NSĐP đạt 6.751 tỷ đồng, trong đó: chi đầu tư phát triển 1.398 tỷ đồng/4.427,8 tỷ đồng = 31,6% kế hoạch, chi thường xuyên 4.616,9 tỷ đồng = 45,3% dự toán.

b) Về hoạt động tín dụng: Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng ước đến 30/6/2020 đạt 23.468 tỷ đồng, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 12.842 tỷ đồng, tăng 14,06% so với cùng kỳ, tương đương 1.583 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm huy động được 571 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng là 4,65%. Tổng dư nợ tín dụng đến 30/6/2020 ước đạt 22.347 tỷ đồng, tăng 10,38% so với cùng kỳ, tương đương tăng 2.102 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm tăng thêm 613 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 2,82%. Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn, ước đến hết tháng 6 nợ xấu chiếm 0,69%/tổng đầu tư tín dụng.

6. Về phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và thu hút đầu tư

a) Về phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã: Công tác nắm bắt, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh được thực hiện thường xuyên, duy trì định kỳ báo cáo 02 lần/tháng. Tổ chức Hội nghị gặp mặt doanh nghiệp năm 2020, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và giải quyết kiến nghị, đề xuất của các hội và hiệp hội doanh nghiệp tỉnh. Tập trung phân tích, đánh giá kết quả thực hiện chỉ số nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2019, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân dẫn đến việc giảm thứ hạng so với năm 2018 và xây dựng kế hoạch cải thiện, nâng cao chỉ số cho năm 2020. Trong đó, đã mời Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tham dự Hội nghị gặp mặt doanh nghiệp và phân tích cụ thể về môi trường kinh doanh của tỉnh qua kết quả điều tra PCI năm 2019. Tổ chức triển khai Quy chế phối hợp trong việc giải quyết thủ tục hành chính cho tổ chức, cá nhân tại Trung tâm Phục vụ hành chính công. Trong 06 tháng đầu năm, có 71 doanh nghiệp và 31 đơn vị trực thuộc thành lập mới; 01 doanh nghiệp và 07 đơn vị trực thuộc giải thể. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 1.959 doanh nghiệp và 620 đơn vị trực thuộc (không bao gồm các doanh nghiệp và đơn vị đã giải thể); có 22 HTX thành lập mới, nâng số  HTX trên địa bàn tỉnh lên 702 HTX.

b) Về hoạt động khởi nghiệp: Tổ chức lựa chọn và ươm tạo 11 dự án, ý tưởng khởi nghiệp tại Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp tỉnh; tổ chức thành công cuộc thi Ý tưởng khởi nghiệp trong thanh niên năm 2020, lựa chọn 06 dự án và ký tài trợ 100 triệu đồng/dự án. Duy trì thường xuyên các hoạt động của Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua như: Chương trình cà phê khởi nghiệp, xây dựng cổng thông tin điện tử khởi nghiệp của tỉnh (www.Startuphagiang.vn); hỗ trợ khởi nghiệp viên về thủ tục thành lập doanh nghiệp, hỗ trợ kết nối kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm; triển khai các khoá học online cho các khởi nghiệp viên trên địa bàn tỉnh trong thời gian dịch Covid -19 diễn ra...  

c) Về thu hút đầu tư: Đẩy mạnh thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư năm 2020. Tập trung giải quyết đề nghị đầu tư và hỗ trợ một số nhà đầu tư khảo sát dự án tại tỉnh; giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị, để khởi công các dự án thu hút đầu tư trọng điểm (Gồm: Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái núi Mỏ Neo, Dự án Trang trại chăn nuôi bò sữa công nghệ cao). Từ đầu năm đến nay, đã thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 05 dự án với vốn đầu tư 816,873 tỷ đồng, cấp điều chỉnh cho 08 dự án. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư, đã thông báo chấm dứt hoạt động 04 dự án, thu hồi 02 dự án hoạt động không hiệu quả.

7. Về quản lý tài nguyên - môi trường; hoạt động khoa học - công nghệ

a) Về tài nguyên, môi trường: Tiếp tục thực hiện tổng kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn tỉnh. Tổ chức đo đạc lập bản đồ địa chính và lập hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 15 xã thuộc các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Quang và Hoàng Su Phì. Xác định ranh giới, cắm mốc giới đất có nguồn gốc từ nông lâm trường tại 08 ban quản lý. Thực hiện thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất với 13 hồ sơ, dự án với tổng diện tích 56,8 ha; đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án; cấp 04 giấy phép khai thác khoáng sản, phê duyệt 06 đề án đóng cửa mỏ khoáng sản, phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoảng sản cho 21 điểm mỏ. Tiến hành lập đề cương nhiệm vụ về tài nguyên nước năm 2020. Tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Nước thế giới 22/3, ngày Khí tượng thế giới 23/3, Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới và Ngày môi trường thế giới. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường; đã kiểm tra 15 doanh nghiệp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường; kiểm tra tình hình thực hiện các quy định pháp luật về tài nguyên nước đối với công trình thủy điện Thanh Thủy 2; kiểm tra việc quản lý sử dụng đất đối với 05 doanh nghiệp; thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước đối với các tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện trên địa bàn các huyện Quang Bình, Hoàng Su Phì, Xín Mần.

b) Về khoa học, công nghệ: Tổ chức thực hiện quản lý 49 đề tài, dự án khoa học cấp tỉnh và 01 dự án cấp Bộ. Công tác thẩm định, xét chọn các nhiệm vụ khoa học công nghệ được thực hiện tốt; đã nghiệm thu 04 đề tài cấp tỉnh, cấp cơ sở; thẩm định 11 đề tài, dự án cấp tỉnh; thẩm định, cấp 08 giấy phép tiến hành công việc bức xạ. Tổ chức triển khai dự án Kawatech – bơm nước không dùng điện tại huyện Mèo Vạc. Đẩy mạnh hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm đặc sản của tỉnh; tổ chức tuyển chọn, phê duyệt danh mục các sản phẩm đặc sản của tỉnh với 01 nhãn hiệu chứng nhận, 03 nhãn hiệu tập thể và 05 nhãn hiệu độc quyền; hoàn thiện in 340.000 tem thông minh truy suất nguồn gốc cho các sản phẩm Cam, Chè Shan Tuyết, Mật ong bạc hà cho các doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia Tuần lễ Cam tại Hà Nội và chuỗi siêu thị Vinmart; tổ chức hướng dẫn Hợp tác xã chế biến chè Phìn Hồ hoàn thiện hồ sơ tham gia Giải thưởng chất lượng quốc gia năm 2020; duy trì, cập nhật thường xuyên thông tin trên Sàn giao dịch và truy xuất nguồn gốc sản phẩm tại địa chỉ https://hagiangtrace.com/. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về khoa học, công nghệ được triển khai kịp thời, đã tổ chức thanh tra xăng dầu tại 18 cửa hàng trên địa bàn các huyện Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Bắc Mê và thành phố Hà Giang và thanh tra 10 cơ sở kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường.