Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Tình hình KT - XH tỉnh Hà Giang 6 tháng đầu năm 2019

Tình hình KT - XH tỉnh Hà Giang 6 tháng đầu năm 2019

 

Trong 6 tháng đầu năm, các ngành, các cấp đã thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp; đẩy mạnh cải cách hành chính, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh; quyết liệt trong ngăn chặn dịch bệnh và khắc phục hậu quả thiên tai; đảm bảo an sinh xã hội; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu 6 tháng đầu năm như sau, trong số 14/44 chỉ tiêu đánh giá thường kỳ, có 4/14 chỉ tiêu đạt 100% trở lên, 3/14 chỉ tiêu đạt từ 70% đến dưới 100%, 2/14 chỉ tiêu đạt từ 50% đến dưới 70%, 5/14 chỉ tiêu đạt dưới 50%; 30 chỉ tiêu có đánh giá, nhưng sẽ được tổng hợp kết quả thực hiện cụ thể cuối năm.

1. Lĩnh vực kinh tế

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP giá so sánh) 6 tháng đầu năm ước đạt 5,03% (thấp hơn mức tăng 7,8% của cùng kỳ 2018), trong đó: Nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,87%, công nghiệp và xây dựng tăng 5,98%, dịch vụ tăng 6,19%, thuế và trợ cấp sản phẩm giảm 1,29%. Tổng sản phẩm theo giá thực tế ước đạt 10.412,7 tỷ đồng, tăng 9,08%.

1.1. Sản xuất nông lâm nghiệp, phát triển nông thôn

- Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm trong vụ Đông - Xuân sơ bộ đạt 115.920,4 ha, tăng 0,86% so với cùng kỳ năm 2018 (bằng 993,8ha). Tổng sản lượng lương thực vụ Xuân ước đạt 134.806,2 tấn, tăng 688,1 tấn so với cùng kỳ năm trước. Vụ Xuân năm 2019 tiếp tục triển khai chương trình cánh đồng mẫu trên cây lúa, ngô, lạc với tổng diện tích 1.648,7 ha/248 cánh đồng; năng suất trung bình cây lúa 61 tạ/ha, ngô 40 tạ/ha, lạc 30 tạ/ha, tăng từ 3-4 tạ/ha so với năng suất chung toàn tỉnh. Chủ động chuyển đổi 87,1 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng lạc (77,3 ha), rau đậu (9,8 ha). Triển khai chương trình đầu tư có thu hồi được 221 mô hình, dự án/ 453 hộ vay, kinh phí 1,78 tỷ đồng, lũy kế đến nay đã cho vay 60 tỷ đồng/13.449 hộ nhân dân, thành viên HTX, THT; số vốn đã thu hồi để luân chuyển trên 16 tỷ đồng, các huyện đang tiếp tục tiến hành thu hồi số đã đến hạn.

- Về chăn nuôi: Tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại; đến nay đã phát triển được 254 gia trại, trang trại (25 trang trại; 229 gia trại). Đẩy mạnh thực hiện kế hoạch thụ tinh nhân tạo cho đàn trâu, bò; đã thực hiện được trên 1.189 con, số lượng thành công 624 con. Tính đến 01/4/2019, tổng đàn trâu có 170.339 con, giảm 0,64% so cùng kỳ; đàn bò 117.217 con, tăng 3,31%; đàn lợn 614.101 con, tăng 3,11%; đàn gia cầm 4,7 triệu con, tăng 4,5%. Sản lượng thịt hơi các loại 27.095,4 tấn, tăng 5,78% so với cùng kỳ.

Công tác chỉ đạo phòng chống rét cho gia súc được thực hiện quyết liệt, do vậy vụ đông 2018-2019 toàn tỉnh không có trâu, bò chết do rét. Công tác phòng chống dịch bệnh được thực hiện chủ động, đã thực hiện 02 đợt phun tiêu độc, khử trùng cho 3.380 thôn, 238 chợ, 51.714 lượt xe. Tuy nhiên, từ tháng 5/2019, trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện dịch Tả lợn Châu phi, đến ngày 30/6/2019 dịch đã xảy ra tại 285 hộ/128 thôn/45 xã/08 huyện, thành phố; tổng số lợn chết và tiêu hủy là 1.982 con, trọng lượng 100,46 tấn. Ngay sau khi xuất hiện dịch bệnh, các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với các huyện, thành phố triển khai các biện pháp bao vây, dập dịch, khống chế dịch. Ngoài ra trong 6 tháng đầu năm còn xuất hiện rải rác các bệnh như phó thương hàn, tụ huyết trùng, tả lợn làm chết 37 con.

- Về áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp: Triển khai các hoạt động trong Chương trình hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm tiên tiến, đã hỗ trợ xây dựng và chứng nhận cho 06 mô hình (01 mô hình rau VietGAP; 04 mô hình chăn nuôi lợn, gà theo VietGAHP; 01 mô hình chế biến chè theo tiêu chuẩn HACCP). Duy trì sản xuất cam VietGAP, chè GAP tại những vùng đã được chứng nhận gắn với phân giao vùng nguyên liệu cho cơ sở chế biến. Tiếp tục thực hiện 3.212 ha chè hữu cơ chuyển tiếp và triển khai mới 2.150 ha chè hữu cơ đối với 12 cơ sở chế biến; triển khai 741,2 ha cam VietGAP cho 17 cơ sở với 624 hộ tham gia.

- Về Đề án mỗi huyện 1 xã, mỗi xã 1 thôn điển hình về phát triển kinh tế nông nghiệp; Đề án Mỗi xã một sản phẩm “OCOP”: Đã có 36 xã với 321 thôn trên địa bàn 10 huyện, thành phố triển khai xây dựng xã, thôn điển hình mẫu về phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với các loại cây trồng chính, chủ lực của từng địa phương. Ban hành hướng dẫn tạm thời thực hiện chu trình OCOP, bộ tiêu chí đánh giá và xếp hạng sản phẩm; đã lựa chọn được 201 sản phẩm của 07 doanh nghiệp, 89 hợp tác xã, 22 tổ hợp tác và 31 hộ gia đình để triển khai thực hiện trong năm 2019.

- Về lâm nghiệp: Công tác chuẩn bị cây giống cho trồng rừng được thực hiện tốt, đã chuẩn bị được 8,8 triệu cây các loại. Thực hiện Tết trồng cây đầu Xuân năm 2019 và trồng cây phân tán được trên 377,5 nghìn cây các loại. Trồng rừng mới 6 tháng đầu năm ước đạt 2.613,7 ha, tăng 56,5% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ sử dụng cây giống tốt vào sản xuất đạt 100% diện tích. Thực hiện tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng được trên 13.700 lượt người, đạt 56,7% kế hoạch. Tuy nhiên, do thời tiết hanh khô đã xảy ra 02 vụ cháy với diện tích 5,42 ha. Tình hình vi phạm Luật lâm nghiệp khá phức tạp, nhất là tại các khu rừng đặc dụng, đã phát hiện và xử lý 136 vụ vi phạm (tăng 19 vụ so với cùng kỳ năm trước), đã xử lý 135 vụ, tịch thu 98,245 m3 gỗ các loại, xử phạt hành chính trên 1,2 tỷ đồng.

- Chương trình xây dựng nông thôn mới: Đã phân công cụ thể các thành viên Ban chỉ đạo tỉnh phụ trách từng xã (xã đăng ký đạt chuẩn trong năm và xã nâng tiêu chí), thường xuyên tổ chức đi cơ sở kiểm tra, nắm bắt tình hình, kịp thời định hướng chỉ đạo cụ thể. Tuyên truyền, vận động nhân dân quyết liệt thực hiện xây dựng nông thôn mới với trọng tâm là nâng cao thu nhập và đầu tư hạ tầng giao thông. Ước 6 tháng đầu năm, nhân dân hiến trên 134.700 m2 đất, đóng góp trên 60.800 ngày công lao động; đã thực hiện nâng cấp 188,7 km đường giao thông các loại, làm mới 51 km đường bê tông nông thôn; cải tạo, xây dựng 34 phòng học, 05 nhà văn hóa thôn. Tiến độ thực hiện 5 xã phấn đấu đạt chuẩn trong năm như sau: xã Tùng Bá hoàn thành 15 tiêu chí; 3 xã Hùng An, Kim Ngọc, Tân Bắc hoàn thành 14  tiêu chí; xã Phương Thiện hoàn thành 13 tiêu chí. Có 15 xã thực hiện tăng thêm được từ 01- 02 tiêu chí (tổng số tăng thêm được 21 tiêu chí) theo Kế hoạch số 52/KH-UBND ngày 12/02/2019.

- Công tác quy tụ dân cư: Được triển khai quyết liệt, phấn đấu hoàn thành 3.269 hộ, về đích trước 01 năm so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh. Đến nay đã hoàn thành di chuyển được cho 2.546 hộ, đạt 77,9% so với kế hoạch. Tổng vốn đã giải ngân 42,411 tỷ đồng, đạt 70.2% kế hoạch vốn cấp.

1.2. Sản xuất Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm giảm 0,67% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 24,42%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,59%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước tăng 8,55%; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 0,6%. Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm tăng khá so với cùng kỳ như: chè chế biến ( tăng 9,83%); sản phẩm in (tăng 17,48%); tấm, lát, lá mỏng bằng chì (tăng 65,2%); bê tông tươi (tăng 6,51%); cửa ra vào bằng sắt, thép (tăng 13,33%); điện sản xuất (tăng 9,13%);…Tuy nhiên có một số sản phẩm sản xuất giảm so với cùng kỳ như quặng sắt (giảm 5,29%); ván ép (giảm 5,81%); xi măng (giảm 65,11%); xe có động cơ (giảm 67,2%);… Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) ước đạt 1.566 tỷ đồng, tăng 1,03% so với cùng kỳ; theo giá thực tế ước đạt 2.457,6 tỷ đồng, tăng 2,07% so với cùng kỳ. Trong 6 tháng đầu năm có một số công trình, dự án điển hình đã đi vào hoạt động như 03 công trình thủy điện, 01 nhà máy sản xuất gỗ viên nén, 01 nhà máy sản xuất giấy.

1.3. Huy động các nguồn lực đầu tư

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện ước đạt 3.596,6 tỷ đồng, đạt tương đương so với cùng kỳ năm trước; trong đó, vốn ngân sách nhà nước 1.504,2 tỷ đồng, tăng 70,8%; vốn ngoài nhà nước 2.086,1 tỷ đồng, giảm 23%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 6,3 tỷ đồng. Thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn NSNN tăng cao so với cùng kỳ do kế hoạch vốn năm 2019 được giao sớm hơn, tạo điều kiện để các chủ đầu tư chủ động triển khai thực hiện. Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài nhà nước giảm do các dự án thủy điện có mức đầu tư lớn cơ bản đã hoàn thành và các dự án thu hút đầu tư ngoài ngân sách khác còn nhiều vướng mắc nên chưa thể triển khai đầu tư.

Tổng vốn đầu tư phát triển từ NSNN năm 2019 do địa phương quản lý (bao gồm cả nguồn vốn kéo dài) là 4.628 tỷ đồng; giải ngân 6 tháng đầu năm ước đạt 1.932 tỷ đồng (đạt 42% kế hoạch); một số nguồn vốn có tỷ lệ giải ngân thấp: Vốn chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới đạt 19%; vốn chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đạt 40%; các nguồn vốn năm 2018 kéo dài sang 2019...

1.3. Giao thông, xây dựng

- Về giao thông: Làm tốt công tác bảo trì các tuyến đường quốc lộ như  QL279, QL4C, QL34, QL4, QL280, đường Cột cờ Quốc gia Lũng Cú; các tuyến đường tỉnh và đường huyện. Tổng giá trị khối lượng thực hiện 6 tháng đầu năm đạt 47,553 tỷ đồng, giá trị giải ngân đạt 25,635 tỷ đồng. Tỷ lệ đường trục thôn được cứng hoá đạt chuẩn đạt 30% (kế hoạch năm 2019 là 33,5%).

- Về xây dựng: Tổ chức thẩm định 03 hồ sơ, dự án; kiểm tra công tác nghiệm thu đưa 15 công trình vào sử dụng. Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các dự án: Xây dựng khu xử lý rác thải hợp vệ sinh tỉnh Hà Giang, xây dựng cầu Phương Tiến (huyện Vị Xuyên); Tu bổ, mở rộng, quy tập nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên (giai đoạn I); đường giao thông liên kết các vùng phát triển kinh tế xã hội phía Đông tỉnh Hà Giang giáp ranh tỉnh Cao Bằng (Đường tỉnh Ngọc Đường-Tùng Bá-Tráng Kìm)… Đã hoàn thiện hồ sơ để khởi công mới dự án cầu treo Vô Điếm (xã Vô Điếm, huyện Bắc Quang); Cải tạo, nâng cấp đường Bắc Quang-Xin Mần; Trạm kiểm soát liên ngành cửa khẩu Săm Pun (xã Thượng Phùng, huyện Mèo Vạc)…Tập trung hoàn thiện hồ sơ để chuẩn bị khởi công dự án Sửa chữa khẩn cấp cầu Yên Biên 2 thành phố Hà Giang.

1.4. Tài chính, tín dụng

- Về thu – chi ngân sách: Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 8.416 tỷ đồng (điều tiết về NSTW 191 tỷ đồng; NS địa phương hưởng 8.225 tỷ đồng). Trong đó, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 828 tỷ đồng, đạt 37,6% kế hoạch tỉnh giao (Thu nội địa 729 tỷ đồng, đạt 37,5% kế hoạch). Theo địa bàn có 04 huyện (Hoàng Su Phì, Xín Mần, Yên Minh, Bắc Mê) và Văn phòng Cục Thuế thu đạt trên 40% kế hoạch tỉnh giao, trong đó huyện có kết quả thu cao nhất là huyện Hoàng Su Phì, đạt 57,6% kế hoạch; 03 huyện (Quang Bình, Bắc Quang, TP Hà Giang) thu đạt từ 30-39% kế hoạch; 04 huyện còn lại (Vị Xuyên, Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc) số thu chỉ đạt dưới 30% kế hoạch. Tổng chi ngân sách địa phương 6.493 tỷ đồng, đạt 44% dự toán, trong đó: chi đầu tư phát triển 1.932 tỷ đồng, chi thường xuyên 4.497 tỷ đồng.

- Về hoạt động tín dụng: Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng ước đến 30/6/2019 đạt 21.244 tỷ đồng, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 11.380 tỷ đồng, tăng 10,8% so với cùng kỳ, tương đương 1.111 tỷ đồng; riêng trong 6 tháng đầu năm huy động được 731 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng là 6,9% (kế hoạch cả năm tăng trưởng 8-10%).

Tổng đầu tư cho nền kinh tế ước đạt 21.004 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ, tương đương tăng 1.971 tỷ đồng; 6 tháng đầu năm tăng thêm 980 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 4,9%. Dư nợ của một số chương trình tín dụng ước đến 30/06/2019 như sau: Cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP dư nợ 7.389 tỷ đồng, tăng 22,7% so với cùng kỳ; cho vay phát triển nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP dư nợ 5,8 tỷ đồng, giảm 27,5%; cho vay trồng rừng, phát triển chăn nuôi theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP dư nợ 50 tỷ đồng với 1.128 khách hàng, riêng 6 tháng tăng 20 tỷ đồng; chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp dư nợ 3.915 tỷ đồng, riêng 6 tháng tăng 38 tỷ đồng; chương trình khởi nghiệp dư nợ 316,6 tỷ đồng, giảm 7,4 tỷ đồng....Ngân hàng sách xã hội thực hiện cho vay 14 chương trình tín dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách, tổng dư nợ 2.868 tỷ đồng, riêng 6 tháng tăng 217 tỷ đồng.

Nợ xấu tiếp tục được kiểm soát ở mức an toàn, ước đến hết tháng 6 nợ xấu chiếm 0,7%/tổng đầu tư tín dụng.

1.5. Thương mại, dịch vụ, du lịch

- Số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đang hoạt động toàn tỉnh là 187 doanh nghiệp với 2.269 lao động (tăng 05 doanh nghiệp, tăng 51 lao động so với cuối năm 2018); số cơ sở hoạt động bán lẻ hàng hóa và dịch vụ sửa chữa xe có động cơ 14.121 cơ sở (tăng 1.093 cơ sở). Thị trường bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh mặc dù có quy mô nhỏ nhưng vẫn đạt được mức tăng trưởng khá. Công tác phối hợp phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả được thực hiện tốt. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 5.284 tỷ đồng, tăng 16,7%; chỉ số giá tiêu dùng chung toàn tỉnh 6 tháng bình quân tăng 1,6% so với cùng kỳ. Chỉ số giá vàng tháng 6 tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 1,8% so với cùng kỳ.

- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hoá qua cửa khẩu ước đạt 199,8 triệu USD, tăng 11% so với cùng kỳ, đạt 36,3% so với kế hoạch, trong đó: xuất khẩu đạt 161,2 triệu USD, nhập khẩu đạt 38,6 triệu USD.

  - Hoạt động du lịch: Lượng khách du lịch đến Hà Giang ước đạt 660.102 lượt người, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước (trong đó có 87.519 lượt khách quốc tế). Tổng thu từ khách du lịch đạt 695 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ. Chất lượng và số lượng phòng nghỉ của các cơ sở lưu trú ngày càng được nâng lên, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch; đến nay toàn tỉnh có 671 cơ sở lưu trú, công suất sử dụng phòng bình quân đạt 60-70%. Tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến quảng bá du lịch “Hà Giang – Di sản và hoa” tại Khánh Hòa; Hội nghị Du lịch và Dược liệu tỉnh Hà Giang; Hội nghị gặp gỡ, đối thoại với Hiệp hội Du lịch, các doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn toàn tỉnh; Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Trong 6 tháng đã công nhận 02 làng đạt tiêu chí Làng văn hóa du lịch tiêu biểu gắn với xây dựng nông thôn mới.

- Hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn diễn ra sôi động, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân. Doanh thu vận tải trong kỳ ước đạt 308,3 tỷ đồng, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Hàng hoá vận chuyển ước đạt 1,178 triệu tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hoá luân chuyển ước 52,37 triệu tấn.km, tăng 11,4 %. Vận chuyển hành khách ước 1,462 triệu lượt người, tăng 18,3% so với cùng kỳ; hành khách luân chuyển ước 216,89 triệu lượt người.km, tăng 20,9%.

  1.6. Phát triển khoa học công nghệ; Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

- Thực hiện quản lý 50 đề tài, dự án khoa học, trong đó có 49 đề tài, dự án cấp tỉnh (29 đề tài, dự án chuyển tiếp; 21 đề tài, dự án mới) và 01 dự án cấp bộ. Đã tổ chức thẩm định 10 đề tài, dự án; nghiệm thu 7 đề tài, dự án. Thẩm định hồ sơ, cấp 04 giấy phép tiến hành công việc bức xạ và 01 chứng chỉ nhân viên bức xạ. Triển khai Kế hoạch 20/KH-UBND về xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản của tỉnh giai đoạn 2016-2020; đã hoàn thiện hồ sơ dự án Quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lí “Hà Giang” dùng cho sản phẩm cam sành của tỉnh; hướng dẫn 01 đơn vị xây dựng nhãn hiệu tập thể. Tổ chức hội thảo đánh giá hiệu quả mô hình Dự án “Xây dựng mô hình phát triển cây xạ đen trên địa bàn tỉnh Hà Giang”. Hướng dẫn 82 xã xây dựng và áp dụng hệ thống quản quản lý chất lượng theo TCVN 9001:2015. Tổ chức 05 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng.

- Hoàn thành công tác thẩm định và trình phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất 2019 của 11/11 huyện, thành phố; hoàn thành Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện của 11 huyện, thành phố. Triển khai thực hiện dự án Xây dựng bảng giá đất của tỉnh giai đoạn 2020-2024, đã tổ chức đánh giá hồ sơ thầu và phê duyệt đơn vị trúng thầu, tập huấn chuyên môn cho các huyện, thành phố, các cơ quan liên quan. Thẩm định nhu cầu sử dụng đất của 06 hồ sơ, dự án; thông báo địa điểm thu hồi đất cho 04 công trình, dự án với tổng diện tích 8,82 ha. Cấp 10 giấy phép thăm dò khoáng sản; 02 giấy phép khai thác khoáng sản; 24 quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Kiểm tra kết quả thực hiện khắc phục các tồn tại, sai phạm 09 doanh nghiệp trong hoạt động khai thác khoáng sản. Cấp 02 giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt và 05 giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.

- Công tác bảo vệ môi trường được đẩy mạnh; tổ chức mít tinh hưởng ứng Ngày quốc tế Đa dạng sinh học, Ngày đại dương thế giới và Ngày môi trường thế giới tại huyện Hoàng Su Phì. Đôn đốc các cơ sở sản xuất, chế biến nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, kết quả thu được 280,33 triệu đồng. Tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác chấp hành pháp luật về đất đai, môi trường, khoáng sản tại một số cơ sở; đã xử phạt hành chính 03 đơn vị với số tiền 180 triệu đồng.

1.7. Tình hình phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã và thu hút đầu tư

- Về tình hình phát triển doanh nghiệp, từ đầu năm đến nay có 89 doanh nghiệp và 36 đơn vị trực thuộc thành lập mới (riêng tháng 6 có 17 doanh nghiệp và 7 đơn vị trực thuộc thành lập mới); có 57 doanh nghiệp và 03 đơn vị trực thuộc hoạt động trở lại; tuy nhiên có 64 doanh nghiệp và 06 đơn vị trực thuộc tạm ngừng hoạt động; 09 doanh nghiệp và 08 đơn vị trực thuộc giải thể. Lũy kế đến nay toàn tỉnh có 2.365 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc, với tổng vốn đăng ký 29.803,3 tỷ đồng; trong đó: số doanh nghiệp hoạt động có doanh thu và nộp ngân sách nhà nước là 1.374 doanh nghiệp, số doanh nghiệp có phát sinh thuế 6 tháng đầu năm là 791 doanh nghiệp, với số tiền 444,8 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm, có 31 HTX thành lập mới, 06 HTX giải thể; lũy kế đến nay toàn tỉnh có 648 HTX, trong đó: 339 HTX nông lâm ngư nghiệp, 64 HTX công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, 92 HTX xây dựng, 10 HTX tín dụng, 79 HTX thương mại-dịch vụ, 42 HTX giao thông vận tải, 22 HTX loại hình khác. Tích cực tổ chức các hoạt động của Vườn ươm khởi nghiệp tỉnh với các nội dung như: tổ chức chương trình cà phê khởi nghiệp thu hút được 42 thành viên tham gia và xây dựng cổng thông tin điện tử khởi nghiệp của tỉnh (www.Startuphagiang.vn). Tư vấn, hướng dẫn 06 khởi nghiệp viên quy trình tham gia hoạt động Vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp tỉnh.

- Về tình hình thu hút đầu tư, tiếp tục giải quyết đề xuất đầu tư và tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các dự án được cấp chủ trương đầu tư tại Hội nghị XTĐT năm 2017; đẩy nhanh tiến độ đối với các dự án thu hút đầu tư của Công ty TNHH trang trại bò sữa công nghệ cao Hà Giang - Tập đoàn TH, công ty THHH Hào Hưng – Hà Giang, Công ty Cổ phần dược liệu Bông Sen Vàng, khu đô thị mới Hà Sơn, công ty CP sản xuất và XNK nông sản FAM... Xây dựng sổ tay hướng dẫn thực hiện dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.  Thực hiện cấp mới giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 21 dự án với tổng vốn 2.604,7 tỷ đồng, trong đó: 08 dự án lĩnh vực thủy điện với số vốn 2.458,9 tỷ đồng; 07 dự án lĩnh vực khoáng sản 39,9 tỷ đồng; 02 dự án thuộc lĩnh vực du lịch, dịch vụ với số vốn 37 tỷ đồng; 01 dự án lĩnh vực dược liệu 11 tỷ đồng; 03 dự án thuộc lĩnh vực khác với số vốn 57,8 tỷ đồng. Thực hiện điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 06 dự án.

- Tập trung vận động, thu hút 05 chương trình, dự án nguồn vốn ODA. Quản lý và sử dụng có hiệu quả 24 chương trình, dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi. Kết quả giải ngân 6 tháng ước đạt 100,433 tỷ đồng, đạt 18% (trong đó, vốn ODA 88,133 tỷ đồng; vốn đối ứng 12,3 tỷ đồng). Tổ chức tiếp nhận mới 03 dự án nguồn vốn NGO với tổng giá trị viện trợ là 21,416 tỷ đồng, nâng tổng số chương trình, dự án lên 14 với tổng giá trị 71,393 tỷ đồng. Đang hoàn thiện hồ sơ tiếp nhận 8 chương trình, dự án mới với kinh phí cam kết là 14,582 tỷ đồng.

- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 07 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 5,3 triệu USD; trong đó có 05 dự án đang hoạt động; 02 dự án tạm dừng hoạt động. Các doanh nghiệp FDI tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, đa số hoạt động cầm chừng và chậm trễ trong việc bỏ vốn đầu tư.

1.8. Về thực hiện một số cơ chế, chính sách theo Nghị quyết HĐND Tỉnh

- Về Nghị quyết 29/2018/NQ-HĐND ngày 07/12/2018 về khuyến khích phát triển nông nghiệp hàng hóa: Đã xây dựng và ban hành Quyết định số 05/2019/QĐ-UBND về Hướng dẫn thực hiện Nghị quyết; rà soát bộ thủ tục hành chính để hướng dẫn thực hiện Nghị quyết. Đến nay đã thực hiện hỗ trợ được 9 tổ chức, cá nhân với số tiền 1,7 tỷ đồng.

- Về thực hiện Nghị quyết số 35/2016/NQ-HĐND ngày 21/7/2016 quy định một số chính sách khuyến khích phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng có 59 hồ sơ được thụ hưởng chính sách với số tiền 3.584,11 triệu đồng; lũy kế từ khi thực hiện chính sách đến nay có 167 hồ sơ được giải quyết với số tiền 10.204,11 triệu đồng. Hiện đang xây dựng điều chỉnh, bổ sung một số điều của Nghị quyết trình HĐND tỉnh phê duyệt để phù hợp với điều kiện thực tiễn, nâng cao hiệu quả triển khai.

- Về Nghị quyết 120/2017/NQ-HĐND ngày 08/12/2017 về hỗ trợ phát triển kinh tế biên mậu trên địa bàn tỉnh. Đã xây dựng và ban hành Quy định chi tiết thực hiện Nghị quyết. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng chính sách đến các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động biên giới. Tuy nhiên, đến nay chưa có tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ xin hỗ trợ theo nội dung Nghị quyết.

- Về Nghị quyết 16/2018/NQ-HĐND ngày 10/07/2018 về việc hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng tự nguyện thôi việc, nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu: Trong quý I, đã ban hành Quyết định phê duyệt danh sách đối tượng đủ điều kiện thôi việc ngay, nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu với 58 người, trong đó 56 người thôi việc ngày và 02 người nghỉ chờ đủ tuổi nghỉ hưu; tổng số tiền hỗ trợ là 8,486 tỷ đồng. Trong quý II đã trình phê duyệt danh sách với 57 người đủ điều kiện thôi việc ngay, hiện đang chuẩn bị ban hành Quyết định phê duyệt để triển khai thực hiện.

- Về Nghị quyết 85/2017/NQ-HĐND ngày 14/07/2017 về Quy định một số chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các dự án xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục và y tế trên địa bàn tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2017-2025: Trong 6 tháng đầu năm chưa có dự án xã hội hóa nào đề xuất hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng theo Nghị quyết. Lũy kế từ khi thực hiện chính sách đến nay đã hỗ trợ cho 01 đơn vị (Bệnh viện Đức Minh) với số tiền 1,050 tỷ đồng.

2. Lĩnh vực Văn hoá - xã hội

2.1. Công tác giáo dục và đào tạo

Tiếp tục củng cố và giữ vững quy mô trường, lớp học; toàn tỉnh hiện có 833 trường và cơ sở giáo dục. Duy trì 13 trường phổ thông dân tộc nội trú và 179 trường phổ thông dân tộc bán trú. Toàn tỉnh hiện có 207 trường đạt chuẩn quốc gia (tỷ lệ 33,06%), tăng 25 trường so với cùng kỳ năm trước. Đã hoàn thành tốt kế hoạch năm học 2018-2019, chất lượng giáo dục được nâng lên. Tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi THPT cấp quốc gia năm 2019 tại tỉnh Hà Giang (kết quả: 01 giải nhì, 01 giải ba và 02 giải khuyến khích); đặc biệt có 01 học sinh đạt giải Nhì cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp Quốc gia. Công tác chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia đảm bảo đúng kế hoạch; hoàn thành tốt công tác coi thi đối với 20 điểm thi trên địa bàn tỉnh, tổng số 224 phòng thi, số lượng thí sinh dự thi là 5.153 em, đạt tỷ lệ 99,48%. Thực hiện đầy đủ, đúng quy định các chế độ chính sách đối với các học sinh dân tộc thiểu số, học sinh vùng đặc biệt khó khăn.

2.2. Công tác y tế

Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh không có dịch bệnh xảy ra, các cơ sở y tế đã khám cho trên 559,8 nghìn lượt người. Hiện tại, trung bình toàn tỉnh có 10,5 bác sĩ/1 vạn dân; 0,91 dược sĩ đại học/1 vạn dân; bình quân 5,9 cán bộ/1 trạm y tế xã. Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi, đã tiêm chủng đầy đủ cho 5.263 trẻ (đạt 31,4% kế hoạch). Các dự án thuộc chương trình y tế, dân số kế hoạch hoá gia đình, phòng chống HIV/AIDS được thực hiện tốt.

Công tác truyền thông phòng chống ngộ độc thực phẩm được tăng cường; đã tổ chức 1.408 buổi tại các cơ sở kinh doanh thực phẩm và cộng đồng. Tổ chức kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm tại 4.614 lượt cơ sở, trong đó có 4.041 lượt cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh (tỷ lệ 87,6%), trong đó đã tiến hành xử phạt 34 cơ sở với số tiền 90,7 triệu đồng. Trong 6 tháng không có vụ ngộ độc nào xảy ra. Công tác kiểm dịch y tế biên giới được thực hiện chặt chẽ, đã thực hiện trên 41.922 lượt xe, 8.790 lượt hành khách xuất cảnh, 265.776 lượt hành khách xuất nhập biên.

2.3. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi, các lễ hội mừng Đảng, mừng Xuân và chào mừng các ngày lễ lớn được tổ chức đúng quy định, đảm bảo an toàn, tiết kiệm. Công tác quản lý, phát huy các di sản văn hóa được chú trọng thực hiện, đã hoàn thành 04 hồ sơ trình Cục Di sản Văn hóa đề nghị công nhận di sản và danh thắng cấp quốc gia. Tổ chức thành công Lễ đón nhận bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia danh lam thắng cảnh Thác Thí (huyện Bắc Quang) và bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Kỹ thuật làm giấy bản của người Dao đỏ. Tổ chức thành công 100 năm Lễ hội Chợ tình Khâu Vai gắn với công bố Bằng công nhận tái thẩm định tư cách thành viên mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ II. Tổ chức 04 giải thể thao quần chúng chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước. Thành lập đoàn huấn luyện viên, vận động viên tham gia 07 giải thể thao, đạt 22 huy chương các loại. Tổ chức thành công giải marathon quốc tế “Chạy trên cung đường Hạnh Phúc”; giải đua xe ô tô, mô tô mạo hiểm tỉnh Hà Giang năm 2019.

2.4. Hoạt động thông tin – truyền thông

Các hoạt động thông tin, truyền thông, báo chí, phát thanh, truyền hình phong phú, có chất lượng. Các đơn vị bưu chính viễn thông đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt phục vụ các sự kiện lớn của tỉnh. Tổ chức tốt Hội Báo Xuân Kỷ Hợi 2019. Thực hiện kiểm tra, rà soát, khảo sát, đo kiểm để triển khai Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất đến năm 2020. Triển khai giai đoạn I Đề án đô thị thông minh thành phố Hà Giang. Tổ chức công bố tích hợp chữ ký số trên thiết bị di động vào phần mềm VNPT-iOffice V4.0. Hệ thống cơ sở hạ tầng viễn thông không ngừng được nâng cấp, toàn tỉnh hiện có 1.884 trạm thu phát sóng thông tin di động; tổng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông ước đạt 285 tỷ đồng.

2.5. Công tác đảm bảo an sinh xã hội và chính sách dân tộc - tôn giáo

Các chính sách đối với người có công được quan tâm thực hiện; tổ chức thăm, tặng quà, chúc tết 8.797 lượt người có công với số tiền 2,9 tỷ đồng. Tổ chức đưa 10 đối tượng thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ tiêu biểu gặp mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước tại thành phố Hà Nội; đưa đối tượng người có công và thân nhân đi điều dưỡng tập trung tại Sầm Sơn, Thanh Hóa. Giải quyết chế độ trợ cấp cho 154 đối tượng người có công và thân nhân; chế độ khác cho 375 đối tượng. Phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình làm nông, lâm, ngư nghiệp năm 2018 và ban hành Kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2019. Thực hiện kịp thời các chính sách trợ giúp xã hội; triển khai tốt các chương trình Bảo vệ trẻ em, Bình Đẳng giới, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 98,16%, vượt 0,36% so với kế hoạch.

Các chính sách dân tộc được quan tâm chỉ đạo đã góp phần cải thiện đời sống của nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bản sắc văn hóa các dân tộc được duy trì và phát huy, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được nâng cao. Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 414/QĐ-TTG ngày 12/4/2019 của thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào DTTS phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS giai đoạn 2019-2025”. Tổ chức thành công Đại hội Dân tộc thiểu số năm 2019 cấp huyện tại 10 huyện, thành phố; thành lập Ban chỉ đạo và chuẩn bị các điều kiện để tổ chức Đại hội đại biểu các Dân tộc thiểu số lần thứ III tỉnh Hà Giang. Chuẩn bị tổ chức Hội nghị giao ban công tác Quản lý nhà nước về Tín ngưỡng, tôn giáo của 25 tỉnh khu vực phía bắc và Hội thảo khoa học “Thực trạng hoạt động của các hiện tượng tôn giáo mới ở phía Bắc hiện nay”.

2.6. Công tác giáo dục nghề nghiệp, lao động, việc làm

Phối hợp với các địa phương, các doanh nghiệp tổ chức 8 hội chợ việc làm với gần 7.000 lao động tham gia; Tư vấn giới thiệu việc làm và học nghề cho 5.196 người, đạt 79,9% kế hoạch năm; giới thiệu việc làm cho 777 người, đạt 86,3% kế hoạch năm. Trong 6 tháng đầu năm đã giải quyết việc làm mới cho 13.271 lao động, đạt 80,1% kế hoạch năm; giải ngân 460 dự án vay vốn Quỹ quốc gia về việc làm, số tiền 23.080 triệu đồng. Duy trì đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp cho 1.786 người; tuyển mới đào tạo giáo dục nghề nghiệp cho 5.337 người.

3. Công tác cải cách hành chính

Ban hành và tổ chức triển khai Kế hoạch cải cách thủ tục hành chính năm 2019 trên cơ sở tích hợp các nhiệm vụ, chỉ tiêu về cơ chế một cửa, một cửa liên thông; kiểm soát thủ tục hành chính; đánh giá tác động thủ tục hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết các thủ tục hành chính..., trong đó đã xác định có 11 nhiệm vụ trọng tâm. Công tác kiểm soát thủ tục hành chính được thực hiện tốt; tính đến ngày 24/5/2019 đã ban bành 28 Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính; thực hiện rút ngắn 30% thời gian giải quyết so với quy định đối với 299 thủ tục hành chính; triển khai tiếp nhận qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 là 286 thủ tục hành chính, mức độ 4 là 86 thủ tục. Tính đến ngày 30/6/2019, toàn tỉnh đã tiếp nhận 37.829 hồ sơ (kỳ trước chuyển sang 4.807, tiếp nhận mới 33.022 hồ sơ), giải quyết được 34.025 hồ sơ, trong đó đã giải quyết trước hạn là 24.137 (tỷ lệ 70,9%), số hồ sơ được giải quyết đúng hạn là 4.903 (tỷ lệ 14,4%). Đã thực hiện điều tra, chấm điểm và ban hành Quyết định công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2018 đối với các cơ quan, đơn vị trong tỉnh.