Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang tháng 4 năm 2022

 

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang tháng 4/2022

1. Một số kết quả nổi bật đã đạt được trong tháng

- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 4/2022 đạt 181,5 tỷ đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm ước đạt 785,5 tỷ đồng (đạt 40,6% KH TW giao, đạt 28,1% KH Tỉnh giao), tăng 37,8% so với cùng kỳ.

- Tổng dư nợ tín dụng đạt 27.151 tỷ đồng (tăng 647 tỷ đồng so với tháng trước).

- Lượng khách du lịch đến Hà Giang đạt trên 221.700 lượt du khách. Lũy kế 4 tháng đầu năm lượng khách du lịch đạt 740.087 lượt khách, tăng 45% so với cùng kỳ năm 2021.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.145,9 tỷ đồng, tăng 5,13% so với tháng trước và tăng 19,88% so với cùng kỳ.

- Doanh thu vận tải tháng 4 ước đạt 53,3 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 19,07% so với cùng kỳ.

- Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng 2,11% so với tháng trước và tăng 6,3% so với tháng cùng kỳ. Lũy kế 04 tháng đầu năm tăng 33,22% so với cùng kỳ năm 2021.

2. Phát triển kinh tế

2.1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

- Trồng trọt: Tiến độ sản xuất vụ Xuân đảm bảo khung thời vụ, tổng diện tích đã gieo trồng đạt 70.470 ha, tăng 1,7% so với cùng kỳ; trong đó, cây lúa đã gieo cấy 9.279 ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ; ngô đã trồng 41.691 ha, tăng 0,7%; các loại cây rau, đậu đạt tương đương so với cùng kỳ. Xuất hiện một số sâu bệnh với diện tích nhỏ trên cây lúa, ngô, đậu tương, đã chỉ đạo các địa phương thường xuyên kiểm tra, khoanh vùng và khuyến cáo người dân các biện pháp phòng trừ.

- Chăn nuôi: Thực hiện cung ứng 7.176 lít hóa chất để triển khai “Tháng tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường trên địa bàn tỉnh; đã phun được 994 lít hóa chất với diện tích 612.037 m2/8.880 hộ và 13 chợ. Đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, không phát sinh dịch bệnh. Thực hiện tái đàn lợn được 4.978 con; lũy kế 04 tháng đầu năm tái đàn được 18.816 con. Cung ứng 383,1 nghìn liểu vắc xin các loại, tổ chức tiêm phòng cho 27.443 lượt con gia súc, gia cầm; từ đầu năm tiêm phòng cho 35.265 lượt con. Tăng cường kiểm soát các cơ sở buôn bán thuốc thú y và mua, bán thức ăn chăn nuôi; trong tháng đã thẩm định gia hạn cấp đủ điều kiện buôn bán thuốc thú y cho 03 cơ sở.

- Lâm nghiệp: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2022, tổng diện tích rừng trồng tập trung trong tháng đạt 747,9 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay 1.132,1 ha. Trồng cây phân tán được 800,65 nghìn cây; lũy kế 1.381 nghìn cây. Thực hiện chăm sóc 2.251,2 ha rừng trồng. Phát hiện 11 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, đã xử lý 09 vụ; tổng số tiền thu nộp ngân sách Nhà nước là 66,1 triệu đồng.

- Tình hình thiệt hại do thiên tai: Trong tháng xảy ra 01 đợt mưa lớn, rét đậm khiến 05 nhà, 02 điểm trường bị thiệt hại (chủ yếu là hư hỏng và tốc mái); 08 con trâu bị chết (do rét, sét đánh). Ước tổng thiệt hại khoảng 300 triệu đồng.

2.2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp duy trì mức tăng nhẹ so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến. Tính chung chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4 tăng 2,11% so với tháng trước và tăng 6,3% so với tháng cùng kỳ. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,22% so với tháng trước, tăng 7,83% so với cùng kỳ; công nghiệp chế biến tăng 10,58% so với tháng trước, tăng 34,05% so với cùng kỳ; sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 1,07% so với tháng trước, giảm 3,82% so với cùng kỳ; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,5% so với tháng trước, giảm 3,67% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá hiện hành ước đạt 607,9 tỷ đồng, tăng 6,6% so với tháng trước và tăng 15,8% so với cùng kỳ.

2.3. Tài chính, tín dụng và đầu tư phát triển

a) Quản lý thu, chi ngân sách: Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tháng 4 đạt 181,5 tỷ đồng, giảm 75,4 tỷ đồng so với tháng trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm ước đạt 785,5 tỷ đồng (đạt 40,6% KH TW giao, đạt 28,1% KH Tỉnh giao), tăng 37,8% so với cùng kỳ tương đương 215,7 tỷ đồng. Trong đó, thu nội địa ước đạt 763,7 tỷ đồng, đạt 41,4% KH TW giao, đạt 28,6% KH Tỉnh giao; thu xuất nhập khẩu đạt 21,8 tỷ đồng, đạt 24,8% KH TW giao, đạt 22,9% KH Tỉnh giao.

Triển khai các thủ tục bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với cơ sở nhà, đất Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Du lịch thành phố Hà Giang. Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước; tổ chức kiểm tra chuyên đề công tác khóa sổ kế toán năm 2021 và phân bổ dự toán thu chi ngân sách nhà nước năm 2022 tại các huyện, thành phố. Chi ngân sách địa phương tháng 04 đạt 1.217,6 tỷ đồng; lũy kế 04 tháng đầu năm ước đạt 4.710,1 tỷ đồng, đạt 29,0% KH năm.

b) Tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng ước đến 30/4/2022 đạt 27.151 tỷ đồng, tăng 647 tỷ đồng so với 31/03/2022, tăng 1.122 tỷ đồng so với 31/12/2021 tương đương với tỷ lệ tăng 4,3%. Doanh số cho vay trong tháng đạt 2.928 tỷ đồng (tăng 182 tỷ đồng so với tháng trước); tập trung vào một số chương trình chính như: Cho vay nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP tăng 113 tỷ đồng; cho vay khởi nghiệp tăng 2,2 tỷ đồng. Ngân hàng chính sách xã hội tiếp tục thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, doanh số cho vay trong tháng đạt 200 tỷ đồng, tổng dư nợ ước đạt 3.789 tỷ đồng. Ngoài ra, thực hiện cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội với tổng dư nợ ước đạt 3.782 tỷ đồng/87.953 hộ, tăng 115 tỷ đồng so với tháng trước.

c) Đầu tư công: Tập trung đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn, bao gồm cả nguồn vốn năm 2022 và các nguồn vốn năm 2021 kéo dài sang 2022. Đến ngày 22/04/2022, giải ngân các nguồn vốn được 470,7/4.078 tỷ đồng, đạt 11,5% kế hoạch; trong đó nguồn vốn năm 2022 giải ngân được 467,2/4.000 tỷ đồng, đạt 11,7% kế hoạch; nguồn vốn năm 2021 kéo dài sang năm 2022 giải ngân được 3,5/78,2 tỷ đồng, đạt 4,5% kế hoạch. Một số huyện có tỷ lệ giải ngân tốt như: Hoàng Su Phì (33,1%); Bắc Quang (31,9%); Mèo Vạc (31,4%); Bắc Mê (31,1%); Yên Minh (28,8%); Đồng Văn (27,9%); Quang Bình (27%). Các huyện còn lại đều đạt dưới 13%.

2.4. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch

a) Về thương mại, dịch vụ và giá cả: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 1.145,9 tỷ đồng, tăng 5,13% so với tháng trước và tăng 19,88% so với cùng kỳ, đạt mức tăng trưởng khá so với tháng trước và cùng kỳ. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, lực lượng chức năng đã kiểm tra 80 vụ về đảm bảo an toàn thực phẩm, thực hiện các quy định về giá, nhãn hàng hoá… Đã xử lý vi phạm hành chính 66 hành vi vi phạm và thu nộp ngân sách nhà nước 248,75 triệu đồng.

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chưa được khôi phục do phía Trung Quốc tiếp tục áp dụng chiến dịch “Zezo Covid”; kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 4 ước đạt 2,6 triệu USD, giảm 18,67% so với tháng trước và giảm 89,17% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,01% so với tháng trước và tăng 2,12% so với cùng kỳ. Bình quân 4 tháng đầu năm chỉ số CPI tăng 1,59% so với cùng kỳ; trong đó một số nhóm hàng hóa có chỉ số tăng cao như vật liệu xây dựng tăng 5,21% so với cùng kỳ, giao thông tăng 13,32%...

Hoạt động vận tải đảm bảo đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, đi lại và tham quan du lịch của nhân dân. Các đơn vị kinh doanh vận tải thực hiện nghiêm túc các quy định phòng, chống dịch tại bến xe và trên các phương tiện, đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt và kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Doanh thu vận tải ước đạt 53,3 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 19,07% so với cùng kỳ.

b) Hoạt động du lịch: Làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công các hoạt động Lễ đón nhận danh hiệu di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, Lễ hội Phong lưu Khâu Vai và Lễ cầu an của người Giáy huyện Mèo Vạc. Lượng khách du lịch đến Hà Giang trong tháng ước đạt trên 221.700 lượt du khách (trong đó khách quốc tế đạt 1.370 lượt khách). Tổ chức thành công tuần văn hóa du lịch 6 tỉnh Việt Bắc và Hà Nội; tham gia chương trình kết nối trực tuyến giới thiệu điểm đến giữa hai công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn và UNESCO Cao nguyên đá Mine (Nhật Bản). Tổ chức khảo sát sản phẩm du lịch trong liên kết vùng giữa Hà Giang với tỉnh Tuyên Quang.

2.5. Thu hút đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã

Tổ chức kiểm tra, làm việc với các huyện về một số dự án thu hút đầu tư trên địa bàn. Tư vấn, hướng dẫn thủ tục đầu tư và giải quyết khó khăn vướng mắc cho 05 doanh nghiệp, hỗ trợ 02 doanh nghiệp thực hiện các thủ tục về đất đai để triển khai các dự án đầu tư.

Tiếp tục duy trì các hoạt động nhóm zalo hỗ trợ doanh nghiệp và nhóm Cộng đồng khởi nghiệp tỉnh Hà Giang. Triển khai các bước thành lập Tổ hỗ trợ khởi nghiệp tỉnh. Áp dụng tốt phương thức đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử, có 63,2% lượt doanh nghiệp đẳng ký trực tuyến. Trong tháng, có 23 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 90,3 tỷ đồng; 03 doanh nghiệp hoạt động trở lại; 05 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Về phát triển hợp tác xã, có 01 HTX thành lập mới, tuy nhiên có 8 HTX giải thể; luỹ kế toàn tỉnh hiện có 767 HTX.

2.6. Quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường

Hoàn thành Kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2025 tỉnh Hà Giang, chuẩn bị các điều kiện tổ chức hội thảo trình Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định. Hướng dẫn các địa phương xây dựng Phương án sử dụng quỹ đất do 04 công ty lâm nghiệp trả lại địa phương. Kiểm tra nghiệm thu công tác thi công đề án đóng cửa mỏ đá vôi Km12, xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên. Kiểm tra thực tế khu vực đề nghị đăng ký khai thác khoáng sản cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ xây dựng dự án Thủy điện Sông Lô 5, Sông Lô 3; đã ban hành xử phạt vi phạm hành chính đối với 01 đơn vị, số tiền 110 triệu đồng. Tổ chức kiểm tra việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải phát sinh do dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh.

3. Công tác lập Quy hoạch tỉnh và các quy hoạch xây dựng

Về lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030: Phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn bị tốt các điều kiện và tổ chức thành công Hội thảo tham vấn đối với nội dung Quy hoạch tỉnh do đồng chí Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì với khoảng 70 đại biểu tham dự. Tiếp tục phối hợp với đơn vị tư vấn tiếp thu ý kiến tham gia tại hội nghị, hoàn thiện hồ sơ Quy hoạch tỉnh trước khi trình Hội đồng thẩm định theo quy định.

Tiếp tục đôn đốc đơn vị tư vấn hoàn thiện phương án khảo sát đối với 09 đồ án quy hoạch phân khu thành phố Hà Giang. Đôn đốc đẩy nhanh tiến độ 03 đồ án Quy hoạch xây dựng tại huyện Vị Xuyên; 02 đồ án Quy hoạch xây dựng tại huyện Quang Bình; các đồ án quy hoạch chung xây dựng và quy hoạch chi tiết xây dựng tại huyện Mèo Vạc và Thành phố Hà Giang.

4. Triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội và các Chương trình đề án của tỉnh

4.1. Triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia

Triển khai Nghị định số 27/2022/QĐ-TTg ngày 19/4/2022 của Chính phủ về việc quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025. Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tổ chức rà soát, tổng hợp nội dung, đối tượng, địa bàn và nguồn vốn thực hiện Chương trình MTQG phát triển KTXH vùng đồng báo DTTS&MN giai đoạn 2021-2025; rà soát các công trình cơ sở hạ tầng có nhu cầu đầu tư thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững.

Tập trung xây dựng Nghị quyết về quy định, nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện 03 Chương trình MTQG; Xây dựng các bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2021- 2025. Tổ chức rà soát quy hoạch nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Kiểm tra tình hình triển khai và thực hiện cơ chế đặc thù áp dụng đối với các loại đường bê tông giao thông nông thôn loại 3,5 m trở lên tại 04 xã của huyện Bắc Quang, Quang Bình. Về tiến độ cung ứng xi măng, đến nay có 08 huyện đã đăng ký tiếp nhận xi măng với tổng khối lượng đăng ký là 12.088,81 tấn (đạt 34,4% KH), có 05 huyện đã tiếp nhận xi măng với khối lượng 1.125 tấn (đạt 4,5% KH). Trong tháng đã thực hiện làm được 4,47 km đường bê tông các loại, bó láng nền nhà 79 hộ, xây dựng 70 công trình nhà tắm, cứng hóa di dời 45 chuồng trại, xây dựng 44 bể nước, kiến cố hóa 450m kênh mương… Nhân dân đóng góp 13.754 ngày công và hiến 8.179 m2 đất để xây dựng cơ sở hạ tầng.

4.2. Thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 75/KH-UBND ngày 14/3/2022 về thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Thực hiện rà soát danh mục nhiệm vụ, dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ giao cho UBND tỉnh Hà Giang là cơ quan chủ quản dự án Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang (giai đoạn 1), đoạn qua tỉnh Hà Giang; đề xuất 19 công trình đầu tư thuộc lĩnh vực y tế với tổng kinh phí là 187 tỷ đồng. Tăng cường tuyên truyền các chính sách miễn, giảm thuế, phí, lệ phí; gia hạn thời hạn nộp thuế và tổ chức thực hiện Nghị định 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ về quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 43/2022/QH15 của Quốc hội để hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Đối với triển khai chương trình vay vốn tín dụng chính sách, đã rà soát và đề nghị NHCSXH Trung ương phân bổ số vốn tín dụng là 806,271 tỷ đồng. Đến nay, tổng số vốn được NHCSXH Trung ương giao là 90,9 tỷ đồng tại Quyết định số 2694/QĐ-NHCS ngày 8/4/2022.

4.3 Thực hiện Đề án cải tạo vườn tạp, phát triển kinh tế vườn hộ và Đề án phát triển bền vững cây cam sành

Thực hiện đánh giá chất lượng các vườn đã cải tạo năm 2021 là 1.032 vườn, đến nay số vườn hoàn thành các tiêu chí là 873 vườn (trong đó, đạt 4/4 tiêu chí là 494 vườn, đạt 3/4 tiêu chí là 379 vườn, đạt 1-2 tiêu chí là 147 vườn). Triển khai Kế hoạch cải tạo vườn tạp năm 2022, tổng số hộ đã thực hiện là 673 hộ (gồm 371 hộ nghèo và 302 hộ cận nghèo) với diện tích vườn đã cải tạo là 293.172 m2. Các vườn đã được cải tạo để trồng các loại rau, củ quả, dược liệu, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Đã tổ chức thẩm định cho 274 hộ, số hộ đủ điều kiện vay vốn là 274 hộ, đã giải ngân cho 44 hộ với số tiền 1.320 triệu đồng. Các hộ đã sử dụng kinh phí để mua giống rau, đậu, củ quả các loại; giống thủy sản (cá chép, cá trắm); giống chăn nuôi (lợn, gia cầm) phục vụ cho sản xuất để phát triển kinh tế hộ. Về kế hoạch phát triển bền vững cây cam sành, các huyện đã tổ chức đăng ký các hộ thực hiện đầu tư thâm canh với diện tích 98,23 ha tại 03 huyện (Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên); chỉ đạo các hộ hoàn thiện hồ sơ để tổ chức thẩm định và giải ngân vốn để triển khai.

4.4. Hoạt động chuyển đổi số

Làm việc với các doanh nghiệp Bưu chính, Viễn thông thống nhất triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển hạ tầng số theo chỉ tiêu Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số giao. Triển khai các hoạt động để thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trong các cơ sở giáo dục và y tế trên địa bàn tỉnh. Tổ chức tập huấn kỹ năng công nghệ thông tin, chuyển đổi số năm 2022 tại 03 huyện: Quản Bạ, Quang Bình, Xín Mần. Hỗ trợ huyện Đồng Văn tập huấn trực tuyến cho đội ngũ công chức quản trị Trang thông tin điện tử các xã, thị trấn. Xây dựng phần mềm và tổ chức trực tuyến Lễ phát động cuộc thi trắc nghiệm trực tuyến tìm hiểu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020-2025. Tăng cường quảng bá du lịch Hà Giang trên nền tảng số, tuyền truyền Lễ hội Phong lưu chợ tình Khâu Vai với chủ đề “Phiên Chợ tình ca”.

Ứng dụng chữ ký số được các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh, duy trì ổn định tỷ lệ văn bản ký số của tổ chức trung bình đạt trên 80%. Đối với chữ ký số cá nhân, một số đơn vị có tỷ lệ tăng cao so với tháng trước như huyện Bắc Quang (tăng 35,81%). Tuy nhiên có 04 đơn vị có tỷ lệ sử dụng chữ ký số cá nhân dưới 80% là Sở Công thương (70,67%); Ban Dân tộc (64,71%); UBND Thành phố Hà Giang (63,19%) và UBND huyện Yên Minh (36,56%).

4.5. Thực hiện các nhiệm vụ phục vụ tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ III

Triển khai Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 06/01/2022 về các nhiệm vụ phục vụ tái đánh giá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn lần thứ III năm 2022. Tiến hành khảo sát sơ bộ các cụm điểm di sản địa chất, di sản văn hóa và di sản tự nhiên phục vụ con đường du lịch trải nghiệm thứ 5 kết nối 2 CVĐC toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn và CVĐC toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng. Tiếp tục triển khai các công trình cải tạo, sửa chữa các trạm thông tin, hệ thống biển biển pano, biển tuyên truyền kết hợp ghế đá dừng chân; thiết kế trưng bày Bảo tàng cao nguyên đá Đồng Văn. Thường xuyên kết nối với các chuyên gia mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu để tư vấn các nhiệm vụ phục vụ tái đánh giá.