Trung tâm tư vấn và xúc tiến đầu tư tỉnh Hà Giang

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ GIANG NĂM 2021

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2021

1. Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản được tổ chức thực hiện trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển, năng suất cây trồng và vật nuôi tăng khá so với năm trước

- Về trồng trọt: Diện tích, năng suất và sản lượng các cây trồng đều tăng so với năm 2020. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 177.078 ha, so với năm trước tăng 0,69% tương đương 1.218 ha. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 421.499 tấn, so với năm trước tăng 1,66%, bằng 6.888,3 tấn. Chủ động chuyển đổi 127,5 ha đất ruộng không chủ động được nước tưới sang trồng các loại cây màu có giá trị kinh tế cao hơn. Mở rộng diện tích trồng cây Ngô sinh khối để cung cấp cho các doanh nghiệp với diện tích 330,1 ha, tăng 240 ha so với năm 2020. Tập trung phát triển cây Cam sành theo hướng bền vững, hữu cơ; sản lượng cam sành niên vụ 2021-2022 ước đạt 76.010 tấn, giảm 4.968,6 tấn so với năm 2020. Chủ động tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình sản xuất và bàn giải pháp cụ thể xúc tiến, tiêu thụ sản phẩm cam niên vụ 2021-2022; tăng cường truyền thông, quảng bá giới thiệu sản phẩm cam Hà Giang trên các nền tảng truyền thông số và mở rộng kênh tiêu thụ trên các sàn thương mại điện tử (như: Voso.vn; Sendo.vn...). 

- Về chăn nuôi: Tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng qui mô trang trại; lũy kế toàn tỉnh hiện có 165 trang trại, tăng 26 trang trại so với cuối năm 2020. Công tác tái đàn lợn được triển khai tích cực, đã thực hiện được trên 72.900 con, nâng tổng đàn lợn lên hơn 582.200 con, tăng 1,87% (tương đương 10.700 con). Đàn gia cầm phát triển ổn định với 5.420 nghìn con, tăng 3,36% (tương đương 176 nghìn con). Tổng đàn trâu, bò giảm, ước có khoảng 277.770 con, giảm 2,77% (tương đương 7.900 con). Sản lượng thịt hơi các loại đạt 51.099,6 tấn, tăng 4,37% so với năm 2020 (tương đương 2.142 tấn). Trong mùa  Đông năm 2020 - 2021, toàn tỉnh không có trâu bò chết do đói, rét. Tuy nhiên, trong năm đã xuất hiện một số dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; số lượng chết và tiêu hủy khá lớn. Các ngành, địa phương đã chủ động thực hiện các biện pháp khống chế, dập dịch, không để lây lan ra diện rộng.

- Về lâm nghiệp, tổng diện tích rừng trồng tập trung đạt 6.208,4 ha; trồng cây phân tán được 1.431,3 nghìn cây các loại. Tích cực chăm sóc rừng đã trồng, thực hiện được 1.862,3 ha, đạt 99,5% KH. Thực hiện quản lý và bảo vệ rừng , đã phát hiện và xử lý 264 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp trong đó co những vụ vi phạm nghiêm trọng , so với năm 2020 tăng 38 vụ. Trong năm đã xảy ra 03 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại 11,383 ha.

- Về thủy sản, tập trung phát triển nuôi cá tại các ao, hồ với các giống cá bản địa và chăn nuôi cá lồng trên các lòng hồ thủy điện; lũy kế có 580 lồng (tăng 38 lồng so với cùng kỳ). Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 2.440 tấn, tăng 4.87% so với năm 2020; trong đó, sản lượng nuôi trồng ước đạt 2.283,4 tấn, tăng 4,69%; sản lượng khai thác đạt 156,6 tấn, tăng 7,54%.

2. Sản xuất công nghiệp: Kết quả thực hiện tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất điện: Chủ động làm việc, nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh và hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn; hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng phương án hoạt động để thích ứng an toàn trong điều kiện dịch bệnh Covid-19. Chỉ số sản xuất công nghiệp ước đạt 12,55% so với năm 2020. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành) ước đạt 7.288,6 tỷ đồng, tăng 17,18% so với năm 2020; trong đó tăng cao nhất là công nghiệp chế biến với mức tăng 31,32%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 10,55%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,95%; công nghiệp khai khoáng có đà phục hồi tốt, tính chung cả năm tăng 4,91%. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh) ước đạt 4.200,8 tỷ đồng, tăng 16,34% so với cùng kỳ.

3. Các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch: Đây là năm các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch gặp nhiều khó khăn do tác động và ảnh hưởng lớn của dịch Covid-19: Thị trường hàng hóa được kiểm soát tốt. Giá cả các yếu tố đầu vào (vật liệu xây dựng, xăng dầu...) tăng cao khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung toàn tỉnh tăng 1,81% so với năm 2020 đã ảnh hởng đến đời sống nhân dân. Hoàn thành chuyển đổi mô hình quản lý đối với 07 chợ. Kiểm tra 1.024 vụ có dấu hiệu buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; phát hiện và xử lý 688 vụ, thu nộp NSNN 3.078 triệu đồng; tiêu hủy hàng hóa trị giá 1.229,2 triệu đồng. Phát triển du lịch đã có sự linh hoạt, đổi mới trong hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch thông qua các nền tảng số (Như: Tổ chức truyền thông giới thiệu bản sắc văn hóa các dân tộc gắn với danh thắng quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, văn hóa trà và sản phẩm đặc trưng của tỉnh Hà Giang, Lễ hội Hoa Tam giác mạch trên các nền tảng số). Tổ chức đón đoàn khách lữ hành Vietravel với gần 200 người đến Hà Giang khảo sát các tour, sản phẩm du lịch. Tổ chức Hội thảo Phát triển sản phẩm du lịch với sự tham gia của các chuyên gia, các doanh nghiệp lữ hành; tổ chức các cuộc khảo sát sản phẩm du lịch tại các địa phương.

4. Tập trung cải thiện môi trường cạnh tranh, thúc đẩy khởi nghiệp, khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế: Xây dựng ban hành hướng dẫn thực hiện quy trình thủ tục các dự án đầu tư. Ban hành quy chế phối hợp các sở ngành huyện thành phố trong giải quyết thủ tục hành chính các dự án đầu tư trên địa bàn để hỗ trợ các nhà đầu tư trển khai dự án. Rà soát, đăng tải công khai thông tin quy hoạch lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Triển khai Phương án khảo sát thu thập thông tin đánh giá năng lực điều hành của các sở, ban, ngành và các huyện, thành phố (DDCI) năm 2021. Rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp xuống còn 01 ngày làm việc; tỷ lệ tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua môi trường điện tử đạt 50%.

Hỗ trợ 01 dự án chế biến sản phẩm cam sành tham gia Cuộc thi khởi nghiệp quốc gia năm 2020 và đạt top 20 dự án xuất sắc; tổ chức tọa đàm khởi nguồn cảm hứng, trang bị kiến thức khởi nghiệp năm 2021; hỗ trợ 14 ý tưởng khởi nghiệp tham dự cuộc thi Phụ nữ khởi nghiệp Việt Nam năm 2021, trong đó có 02 ý tưởng vào chung kết và 01 ý tưởng được trao giải Chắp cánh tài nguyên bản địa.

Từ đầu năm đến 15/11/2021, có 216 doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 2.101,4 tỷ đồng; có 90 doanh nghiệp hoạt động trở lại. Lũy kế toàn tỉnh có 2.879 doanh nghiệp. Hỗ trợ 83 doanh nghiệp sau cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp triển khai các thủ tục để đi vào hoạt động.

Về hợp tác xã, triển khai Kế hoạch số 134/KH-UBND, ngày 26/4/2021 về phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác kiểu mới giai đoạn 2021 - 2025; rà soát, đánh giá tình hình hoạt động của các HTX, trên cơ sở đó giải quyết và xử lý dứt điểm các HTX không còn hoạt động, tổ chức lại các HTX theo Luật HTX năm 2012. Trong năm, có 52 HTX thành lập mới với trên 1.088 thành viên gia nhập; lũy kế số HTX toàn tỉnh là 741 HTX.

5. Công tác lập quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch

- Công tác lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050: Được thực hiện trong bối cảnh có nhiều khó khăn khi quy hoạch Quốc gia, quy hoạch vùng chưa được lập; các hướng dẫn liên quan của Bộ, ngành Trung ương chưa được ban hành kịp thời. Tuy nhiên, Tỉnh đã chủ động, linh hoạt trong công tác lập quy hoạch tỉnh, đảm bảo đúng lộ trình và kế hoạch đề ra. Đến nay đã hoàn thành tích hợp 21 phương án phát triển ngành, lĩnh vực và 11 phương án phát triển huyện, thành phố thời kỳ 2021-2030 để xây dựng nội dung Quy hoạch tỉnh. Tổ chức Hội nghị Ban chỉ đạo lập Quy hoạch tỉnh xem xét, cho ý kiến; đồng thời báo cáo, xin ý kiến Ban Thường vụ Tỉnh ủy lần 1 (Tháng 10/2021). Báo cáo, xin ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường đối với Phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai theo khu chức năng và theo loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp huyện. Hiện đang xin ý kiến Bộ Công an, Bộ Quốc phòng về nội dung Quy hoạch tỉnh theo quy định, thuc hiện kết luận của BTV Tỉnh ủy đơn vị tư vấn lập quy hoạch tỉnh tiếp tục đi thực tế tại cơ sở các huyện thành phố để cập nhật thêm thông tin bổ sung hoàn thiện tích hợp vào quy hoạch tỉnh. Dự kiến trình Hội đồng thẩm định vào tháng 12/2021.

- Công tác lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng: Thực hiện rà soát các quy hoạch xây dựng cần lập mới, điều chỉnh trong giai đoạn 2021-2025. Hoàn thành phê duyệt nhiệm vụ - dự toán đối với 09 đồ án quy hoạch phân khu theo Quy hoạch chung đô thị Hà Giang; hiện đang tiến hành khảo sát để chuẩn bị cho công tác lập các đồ án. Tổ chức lập 10 đồ án quy hoạch chung xây dựng, quy hoạch chi tiết xây dựng, khu du lịch trên địa bàn các huyện; tiến độ lập đảm bảo kế hoạch đề ra. Đến nay, cơ bản các đồ án quy hoạch đô thị đã được xây dựng phù hợp với quy mô từng đô thị, hạ tầng kỹ thuật được xây dựng đồng bộ. 11/11 huyện, thành phố đã có đồ án quy hoạch chung xây dựng.

- Công tác lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch sử dụng đất: Các huyện, thành phố tập trung triển khai các bước về lập Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thời kỳ 2021-2030; lập kế hoạch sử dụng đất năm 2022. Đến nay, Hội đồng thẩm định cấp tỉnh đã tổ chức thẩm định quy hoạch sử dụng đất cấp huyện. Dự kiến đến cuối năm sẽ hoàn thành phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện thời kỳ 2021-2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2022.

- Về phát triển đô thị: Chỉnh trang đô thị có nhiều chuyển biến tích cực; Thành phố Hà Giang triển khai lát gạch, đá vỉa hè các trục đường; thảm bê tông nhựa; làm đường bê tông xi măng; lắp hệ thống camara an ninh và xây dựng các công trình hạ tầng kĩ thuật chỉnh trang đô thị theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm với đóng góp của các tổ chức, cá nhân là trên 17 tỷ đồng. Hoàn thành các thủ tục công nhận xã Hùng An, huyện Bắc Quang là đô thị loại V. Chuẩn bị các điều kiện xét công nhận thị trấn Vị Xuyên mở rộng đạt tiêu chí đô thị loại IV. Phê duyệt điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị đối với 03 thị trấn (Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc). Tổ chức lập Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hà Giang đến năm 2035, tiến độ đạt yêu cầu.

6. Thực hiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước chặt chẽ, hiệu quả: Nuôi dưỡng và khai thác tốt các nguồn thu. Thu NSNN trên địa bàn ước đạt trên 2.700 tỷ đồng, đạt 144,6% dự toán TW giao và hoàn thành KH Tỉnh giao, tăng so với năm 2020 là 170,4 tỷ đồng. Trong đó: Thu nội địa đạt 2.540 tỷ đồng, đạt 153,3% dự toán TW giao, đạt 105,7% dự toán Tỉnh giao. Thu thuế xuất nhập khẩu đạt 85 tỷ đồng, đạt 40,5% dự toán TW giao, đạt 31,5% dự toán Tỉnh giao. Quản lý chi ngân sách chặt chẽ, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả; cân đối, bố trí đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ đột phá, trọng tâm của tỉnh, gồm: Bố trí 100 tỷ đồng chi thường xuyên và ứng trước ngân sách 55 tỷ đồng để hỗ trợ 8 xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới; bố trí 424 tỷ đồng thực hiện các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết HĐND tỉnh; đảm bảo và bố trí kịp thời kinh phí cho công tác phòng chống dịch Covid-19 và thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; hỗ trợ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh trên vật nuôi; chi trả đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội cho người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và người có công. Chi ngân sách địa phương ước đạt 14.518,5 tỷ đồng, đạt 101,0% KH. Thực hiện tiết kiệm, cắt giảm theo Nghị quyết số 58/NQ-CP của Chính phủ được 25,5 tỷ đồng.

7. Phát triển tín dụng để hỗ trợ cho phát triển kinh tế - xã hội: Tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, đáp ứng nhu cầu vốn hợp pháp của người dân, góp phần hạn chế tín dụng đen. Tổng nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín dụng ước đạt 27.690 tỷ đồng (nguồn vốn huy động tại địa phương đạt 14.636 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cuối năm 2020). Tổng dư nợ tín dụng đạt 25.863 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cuối năm 2020, vượt KH. Nợ xấu được kiểm soát ở mức an toàn, ước đến 31/12/2021 chiếm 0,69%/tổng dư nợ.

8. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 12.010 tỷ đồng, tăng 3,9% so với năm 2020, vượt KH. Trong đó: Vốn đầu tư ngoài nhà nước thực hiện ước đạt 7.735 tỷ đồng, tăng 9,8% so với năm 2020. Vốn đầu tư từ NSNN ước đạt 4.275 tỷ đồng, giảm 4,2% so với năm 2020.

- Về đầu tư công: Quyết liệt chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các thủ tục đầu tư, xây dựng, nghiệm thu thanh quyết toán… để đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư công. Đã thực hiện quyết toán 107 dự án. Thu hồi tạm ứng được 320.630 triệu đồng. Tổ chức rà soát, đánh giá hiệu quả đầu tư các công trình xây dựng cơ bản được đầu tư xây dựng từ NSNN; điều chỉnh đầu tư đối với 280 dự án, trong đó: 17 dự án cắt giảm quy mô, điểm dừng kỹ thuật hợp lý; 63 dự án dừng, kết thúc dự án. Hoàn thành và trình HĐND ban hành các Nghị quyết số 06/NQ-HĐND, số 19/NQ-HĐND, số 36/NQ-HĐND về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 -2025. Giải ngân vốn đầu tư công ước đạt 100% kế hoạch vốn (không bao gồm nguồn thu từ sử dụng đất).

- Về đầu tư ngoài ngân sách: Triển khai kế hoạch thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy về thu hút đầu tư giai đoạn 2021-2025. Tổ chức thành lập Ban Thu hút đầu tư của tỉnh. Phối hợp với Tập đoàn FLC tổ chức Lễ khởi công dự án Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng FLC Hà Giang. Hỗ trợ 22 doanh nghiệp nghiên cứu, khảo sát đầu tư tại tỉnh. Tập trung giải quyết khó khăn, vướng mắc và đôn đốc các doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án trọng điểm thu hút đầu tư. Từ đầu năm đến ngày 15/11/2021 có 20 dự án đầu tư mới được chấp thuận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 3.409,9 tỷ đồng. Tổ chức rà soát, đánh giá tổng thể hiệu quả 324 dự án sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư/quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư chỉ ra được những tồn tại cần khắc phục.

9. Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội: Tích cực làm việc với các Bộ, ngành Trung ương để xúc tiến đầu tư tuyến đường nối cao tốc Hà Nội - Lào Cai và tuyến kết nối cao tốc Phú Thọ - Tuyên Quang với Hà Giang. Đầu tư cải tạo, sửa chữa và nâng cấp các tuyến đường Quốc lộ, tỉnh lộ, đường ra cửa khẩu, đường huyện, các tuyến đường đến trung tâm xã, đảm bảo giao thông thông suốt. Trong đó có các tuyến đường Quốc lộ, đường tỉnh huyết mạch như: Quốc lộ 4C, Quốc lộ 279; ĐT.177 (Bắc Quang-Xín Mần), ĐT.183 (Vĩnh Tuy-Yên Bình), ĐT.178 (Yên Bình-Cốc Pài), ĐT.176 (Yên Minh-Mậu Duệ-Mèo Vạc), ĐT.176B (Minh Ngọc-Mậu Duệ)…

Hạ tầng lưới điện truyền tải và phân phối được thực hiện theo quy hoạch, cơ bản đáp ứng được yêu cầu phát triển KTXH. Năm 2021, có 11 công trình thuỷ điện đang triển khai thực hiện với công suất 92MW; đã hoàn thành và đi vào hoạt động 04 nhà máy thủy điện với tổng công suất 82,2MW, sản lượng trong năm ước đạt 196,41 Triệu Kwh.

Hoàn thành 204/204 điểm cầu đảm bảo kết nối trực tuyến 4 cấp từ Trung ương đến cấp xã. Rà soát, triển khai hạ tầng viễn thông di động, băng thông rộng cố định đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt. Kết nối 100% các cơ sở cách ly trên địa bàn tỉnh với hệ thống camera giám sát do Bộ Y tế quản lý; triển khai trang thiết bị trực tuyến phục vụ kết nối điểm cầu tại phòng điều trị tích cực bệnh viên Lao và Phổi, Bệnh viện đa khoa tỉnh… phục vụ cho công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19.

10. Tập trung triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2025

Triển khai kế hoạch thực hiện 08 xã phấn đấu đạt chuẩn năm 2021. Xây dựng Đề án huyện NTM đến năm 2025 đối với huyện Bắc Quang và Quang Bình. Chủ động huy động các nguồn vốn để thực hiện chương trình, tổng số vốn huy động và bố trí cho Chương trình là 292,133 tỷ đồng. Đầu tư hoàn thiện 203 km đường bê tông các loại và các hạ tầng khác. Ước đến hết năm 2021, tăng được 96 tiêu chí, đưa tổng số tiêu chí toàn tỉnh lên 2.455 tiêu chí. Đối với 08 xã phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2021, Tỉnh đã hỗ trợ 33.018 tấn xi măng để làm đường bê tông. Tổng số tiêu chí của 8 xã đã đạt là 118/152 tiêu chí, đạt 78%. dự kiến đến hết năm 2021 có 03/08 xã hoàn thành (đạt 37,5% KH).

Duy trì các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo; tiếp tục thực hiện 15 chương trình tín dụng cho hộ nghèo và hộ chính sách. Ước cả năm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm 3,75% (chưa đạt KH); tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020) còn là 18,54%.

Hoàn thành rà soát nhu cầu đầu tư Đề án tổng thể phát triển KTXH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh.

11. Ứng dụng khoa học công nghệ: Hỗ trợ 12 doanh nghiệp, HTX in và sử dụng 4,5 triệu tem thông minh truy suất nguồn gốc sản phẩm. Cấp mới 02 giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; lũy kế toàn tỉnh có 05 doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tiếp tục triển khai đề tài, dự án, đảm bảo tiến độ và hiệu quả. Tiếp nhận và triển khai dự án cấp nước Lùng Lú bằng hệ thống bơm năng lượng mặt trời. Đẩy mạnh quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, góp phần tạo dựng uy tín, quảng bá thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm của tỉnh; toàn tỉnh hiện có 07 chỉ dẫn địa lý, 13 nhãn hiệu chứng nhận, 11 nhãn hiệu tập thể và hơn 120 nhãn hiệu độc quyền.

12. Quản lý tài nguyên, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường: Ban hành Chỉ thị số 869/CT-UBND ngày 11/4/2021 chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh; đã thực hiện giao đất, cho thuê đất cho 24 dự án với diện tích 480,58 ha; thu hồi diện tích 481,74 ha. Hoàn thiện bổ sung kế hoạch định giá đất cụ thể làm căn cứ tính tiền bồi thường, xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất năm 2021. Hoàn thành điều tra, đánh giá tai biến địa chất, địa chất công trình, địa chất đô thị, địa chất môi trường khu vực thành phố Hà Giang và huyện Vị Xuyên. Ban hành và triển khai Phương án bảo vệ cát, sỏi lòng sông chưa khai thác trên địa bàn tỉnh và xây dựng Quy chế phối hợp với tỉnh Tuyên Quang trong công tác quản lý cát, sỏi lòng sông khu vực giáp ranh. Tăng cường kiểm tra việc khai thác sử dụng tài nguyên nước và quản lý hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.

13. Chương trình chuyển đổi số: Thực hiện ký kết hợp tác với Tập đoàn FPT về chuyển đổi số, thành lập 07 tổ công tác chuyển đổi số. Xây dựng định hướng khung kế hoạch 24 tháng chuyển đổi số tổng thể, toàn diện trên địa bàn tỉnh. Tổ chức khảo sát đánh giá thực trạng chuyển đổi số tại các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, các đơn vị trường học, cơ sở khám chữa bệnh, 2.208 đoàn viên thanh niên và khoảng 200 doanh nghiệp. Tổ chức chương trình đào tạo nâng cao nhận thức về chuyển đổi số cho lãnh đạo 03 cấp tỉnh, huyện, xã tại 233 điểm cầu với 4.431 người tham gia.

Triển khai hỗ trợ đưa các sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử; đã có gần 100 sản phẩm của tỉnh có mặt trên các sàn thương mại điện tử Sendo, Shop VnExxpress. Hoàn thành thiết kế và vận hành gian hàng triển lãm thực tế ảo 3D tại Website “Triển lãm chuyển đổi số nông nghiệp Việt Nam”. Phối hợp với Công ty Base - FPT xây dựng chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp tỉnh giai đoạn 2021-2022; đã làm việc trực tiếp với 09 doanh nghiệp tiên phong, có 01 doanh nghiệp đã ký kết hợp đồng triển khai gói chuyển đổi số.

Việc ứng dụng chữ ký số trong gửi và nhận văn bản điện tử được chỉ đạo quyết liệt, tạo chuyển biến rõ rệt. Đối với cấp tỉnh, đến nay có 20/20 đơn vị cấp tỉnh có tỷ lệ sử dụng chữ ký số cá nhân đạt trên 90%. Đối với cấp huyện đã có 8/11 huyện có tỷ lệ sử dụng chữ ký số cá nhân đạt trên 60%.

14. Công tác cải cách hành chính: Ban hành và tổ chức thực hiện Chỉ thị số 623/CT-UBND nhằm chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong quá trình triển khai, đã tổ chức kiểm tra đột xuất tại 03 đơn vị cấp tỉnh; 25 xã, phường thuộc 11/11 huyện, thành phố. Ban hành và triển khai Đề án số 29/ĐA-UBND ngày 31/5/2021 về sắp xếp các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện. Tổng số biên chế công chức và số lượng người làm việc giao năm 2021 là 26.379 chỉ tiêu, giảm 704 chỉ tiêu so với năm 2020, hoàn thành mục tiêu giảm 10% theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị.

Tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TU của Tỉnh ủy về đẩy mạnh CCHC, nâng cao chất lượng công vụ giai đoạn 2021-2025; xây dựng và triển khai thực hiện Đề án số 56/ĐA-UBND ngày 30/8/2021 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng công vụ giai đoạn 2021-2025, Kế hoạch số 258/KH-UBND của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 02/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, các chỉ số về cải cách hành chính của Tỉnh đạt kết quả tốt; Chỉ số cải cách hành chính (ParIndex) đạt 83,87% thuộc nhóm B (vượt mục tiêu 3,87%); Chỉ số SIPAS đạt 87,60% (tăng 2,8% và 10 bậc); Chỉ số PAPI xếp hạng 33/63 tỉnh, thành phố (tăng 12 bậc). Cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đối với 100% TTHC đủ điều kiện. Tỷ lệ hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của tỉnh đạt 48,76%. Số lượng hồ sơ đã giải quyết trước và đúng hạn toàn tỉnh đạt 95,4%.